AGU - Tạp chí khoa học
537 ấn phẩm có sẵn
Đang tải...
Những tài liệu tải lên gần đây
- Ấn phẩmXây dựng công cụ phát hiện bản đồ Việt Nam vi phạm chủ quyền quốc gia trong tài liệu ảnh(Đại học An Giang, 2025) Nguyễn, Trần Linh Tâm; Lê, Việt PhươngGần đây, trong nước liên tục phát hiện hình ảnh bản đồ Việt Nam có đường lưỡi bò thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia được cài cắm vào trong các tài liệu, ấn phẩm vi phạm pháp luật Việt Nam về chủ quyền biên giới. Điều này gây rất nhiều khó khăn trong công tác cấp phép xuất bản tài liệu ấn phẩm của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh An Giang. Do đó rất cần có một công cụ tự động phát hiện các hình ảnh bản đồ Việt Nam có chứa ảnh đường lưỡi bò trong tài liệu ảnh xin cấp phép xuất bản. Trong bài báo này chúng tôi nghiên cứu sử dụng mạng nơ-ron tích chập (Convolutional Neraul Network - CNN) với các mô hình VGG16, InceptionV3 và ResNet50 kết hợp học chuyển giao để phát hiện ảnh bản đồ Việt Nam có chứa ảnh đường lưỡi bò trong tài liệu ảnh. Kết quả thực nghiệm đã cho thấy ba mô hình này đều khả thi, tuy nhiên mô hình ResNet50 cho kết quả tốt nhất, thực nghiệm trên tập 2.000 tài liệu ảnh, thì mô hình ResNet50 cho kết quả chính xác trên 95%. Xác suất phát hiện cao của mô hình ResNet50 thể hiện sự phù hợp của mô hình và cũng là cơ sở để xây dựng công cụ để triển khai thực tế tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh An Giang.
- Ấn phẩmXây dựng hệ thống điểm danh học viên với thông tin 3D của khuôn mặt tại Trung tâm tin học, Trường Đại học An Giang(Đại học An Giang, 2025) Huỳnh, Việt Trung; Nguyễn, Văn HoàTrong bài viết này, chúng tôi trình bày một hệ thống nhận dạng và điểm danh khuôn mặt thời gian thực sử dụng camera 3D và máy tính nhỏ Jetson Nano, chúng tôi huấn luyện mô hình mạng nơ-ron tích chập để trích chọn đặc trưng của hình ảnh khuôn mặt, với kỹ thuật học chuyển giao trên 2 loại dữ liệu, hình ảnh khuôn mặt có thông tin chiều sâu và hình ảnh khuôn mặt không có thông tin chiều sâu. Dữ liệu huấn luyện mô hình trích đặc trưng khuôn mặt được sử dụng từ bộ dữ liệu được cung cấp bởi tổ chức Ai BenchCouncil. Để đánh giá các mô hình, chúng tôi sử dụng tập dữ liệu thu thập bằng camera 3D, từ 302 đối tượng là học viên Trung tâm Tin học, Trường Đại học An Giang. Kết quả xác định vị trí khuôn mặt trong bức ảnh đạt độ chính xác 99,87% dựa trên mạng nơ-ron xếp chồng MTCNN (Multitask Cascaded Convolutional Networks). Mô hình định danh khuôn mặt đạt độ chính xác 99,77% với dữ liệu hình ảnh có thông tin chiều sâu của khuôn mặt khi sử dụng thuật toán máy học SVM (Support Vector Machine).
- Ấn phẩmỨng dụng dây cóc Tinospora Cordifolia trong phòng và trị bệnh ký sinh trùng trên đường tiêu hóa của bò vỗ béo tại Tri Tôn, tỉnh An Giang(Đại học An Giang, 2025) Trương, Thanh NhãĐề tài ứng dụng dây cóc Tinospora Cordifolia trong phòng và trị bệnh ký sinh trùng trên đường tiêu hóa của bò vỗ béo tại Tri Tôn, tỉnh An Giang, thử nghiệm so sánh khi thực hiện trên 24 con bò vỗ béo tại Tri Tôn, tỉnh An Giang, sử dụng bột dây cóc và dây cóc tươi cho uống, thử nghiệm được tiến hành liều thấp 100 mg/kg thể trọng, liều cao 250 mg/kg thể trọng và thuốc Praziquantel liều thấp 5 mg/kg thể trọng, liều cao 10 mg/kg thể trọng, thử nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, có 3 lần điều trị và 3 lần lặp lại để so sánh và đối chứng. Sau khi sử dụng dây cóc tươi với liều 100 mg/kg thể trọng, so với số lượng trứng ký sinh trùng ban đầu trước khi điều trị là 100%, sau 5 ngày đã giảm xuống 47,22%, sau 10 ngày giảm 61,11% và 15 ngày giảm 75,00%. Đối với bột dây cóc với số lượng trứng ban đầu là từ 100% và giảm lần lượt giảm 36,70%; 53,30% và 83,30%. Đối với liều 250 mg/kg thể trọng, số lượng trứng ký sinh trùng sau 5 ngày sử dụng dây cóc tươi giảm 36,00%, sau 10 ngày giảm 56,00% và 15 ngày giảm 76,00% so với số trứng ký sinh trùng ban đầu. Tương tự sau 5, 10, 15 ngày sử dụng bột dây cóc số lượng trứng giảm lần lượt 30%; 60% và 80%. Sử dụng Praziquantel theo liều thấp là 5 mg/kg thể trọng, cho thấy số lượng trứng ký sinh trùng sau 5 ngày giảm 37,50%, sau 10 ngày giảm 56,30% và đến 15 ngày giảm 75,00% so với số lượng ký sinh trùng ban đầu. Tương tự khi sử dụng thuốc Praziquantel ở liều cao là 10 mg/kg thể trọng với số lượng trứng ban đầu là 100% và giảm lần lượt giảm đi 30,80%; 46,20% và 69,20% theo 5; 10 và 15 ngày sử dụng thuốc.
- Ấn phẩmNghiên cứu hiệu quả kháng nấm Phytopthora sp. trên khoai môn của chế phẩm Nano bạc-Chitosan ở điều kiện phòng thí nghiệm(Đại học An Giang, 2025) Nguyễn, Phú Dũng; Nguyễn, Thị Thanh NgânĐề tài được thực hiện nhằm xác định khả năng ức chế của chế phẩm Nano bạc (Ag) – Chitosan đối với nấm Phytophthora sp. trên khoai môn ở điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả thí nghiệm cho thấy sử dụng Nano Ag – Chitosan với nồng độ 40 ppm và 60 ppm cho bán kính ức chế 4,19 – 6,61 mm và hiệu lực 8,94 – 83,12% kháng nấm Phytopthora sp. phát triển tốt và ổn định nhất so với nồng độ 20 ppm trong suốt 1 – 8 ngày sau khi cấy. Riêng Nano Ag – Chitosan ở nồng độ 40 ppm cho bán kính ức chế 4,18 – 7,41 mm và hiệu lực 9,48 – 81,18% kháng nấm Phytopthora sp. phát triển tốt nhất và ổn định nhất so với Chitosan, Oligo – Chitosan, Nano Ag – Chitosan và Mancozeb trong suốt 1 – 8 ngày sau khi cấy.
- Ấn phẩmỨng dụng Prebiotic trong công tác phòng bệnh trên tôm(Đại học An Giang, 2025) Nguyễn, Thị Thuý HằngTôm là động vật thủy sản rất nhạy cảm với sự biến động của các yếu tố môi trường. Trong đó, mầm bệnh là một trong những yếu tố mà tôm phải đối phó để tồn tại, bởi đặc thù ở tôm chỉ có hệ miễn dịch tự nhiên nên công tác phòng bệnh sẽ đóng vai trò rất quan trọng. Việc bổ sung dinh dưỡng và các chất kích thích miễn dịch vào khẩu phần của tôm là lựa chọn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hiện nay. Trong đó, prebiotic đóng vai trò là chất kích thích hệ miễn dịch tự nhiên của tôm, làm tăng hệ vi sinh đường ruột và tăng khả năng chống chịu với các biến động khác của môi trường. Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thử nghiệm thành công hiệu quả của các prebiotic như β-glucan, polysaccharide, lipopolysaccharides (LPS), các sản phẩm chiết xuất từ lợi khuẩn, synbiotic,… Nhiều tác giả cũng khẳng định việc bổ sung prebiotic mang lại hiệu quả cao trong công tác phòng bệnh trên tôm nuôi.
- Ấn phẩmChữ “Trung” trong quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu và ý nghĩa đối với việc xây dựng văn hóa chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam(Đại học An Giang, 2025) Phạm, Thị Hường; Ninh, Văn HùngNguyễn Đình Chiểu là nhà tư tưởng, nhà văn hóa tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XIX. Ông sống trong thời đại lịch sử có nhiều biến động về kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa - tư tưởng, từ đó có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của ông cũng như các chí sĩ yêu nước đương thời, trong đó phải kể đến quan niệm về “Trung”. Quan niệm về “Trung” của Nguyễn Đình Chiểu từ chỗ thuần túy chịu ảnh hưởng và thể hiện nội dung của Nho giáo nguyên thủy là trung với vua đã có bước phát triển về chất, mở rộng nội dung không chỉ trung với vua mà còn là trung với nhân dân. Quan niệm về “Trung” của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện tính nhân văn, nhân nghĩa và thân dân sâu sắc, có ý nghĩa thời đại đối với công tác xây dựng văn hóa chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình giành, giữ độc lập và phát triển đất nước. Với tính cách là tổ chức cao nhất lãnh đạo đất nước, việc thường xuyên trau dồi, tiếp thu những giá trị tư tưởng trong lịch sử là cần thiết để xây dựng văn hóa chính trị tiên tiến, đậm đà bản sắc của Đảng. Từ đây, văn hóa chính trị có ý nghĩa quyết định đến những hành động thực tiễn trong phát triển đất nước, phát triển con người Việt Nam dân chủ, công bằng, văn minh.