AGU - Tạp chí khoa học
547 ấn phẩm có sẵn
Đang tải...
Những tài liệu tải lên gần đây
- Ấn phẩmẢnh hưởng của thân cây ngô khô kết hợp với selen ức chế hấp thụ đồng lên cây cải thìa(Đại học An Giang, 2025) Lê, Kim Hồng; Phạm, Huỳnh Yến Vy; Đỗ, Lê Phương Vy; Nguyễn, Võ Hữu Tình; Lý, Thuỳ Minh; Trần, Thị Anh ThưMục tiêu của nghiên cứu này là nhằm đánh giá các ảnh hưởng của phế phẩm nông nghiệp (thân ngô khô-ZM) kết hợp với selen (Se) để giảm bớt độc tính của đồng (Cu) thông qua sự thay đổi sinh khả dụng của Cu trong đất. Các thí nghiệm trong nghiên cứu xác định các thông số về: sự sinh trưởng của cây cải thìa, tổng nồng độ Cu trong cây và sự thay đổi phân bố của các phân đoạn Cu trong đất trước khi trồng và sau khi thu hoạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ZM kết hợp với Se có thể khử độc Cu ở nồng độ vượt tiêu chuẩn (200 mg/kg) bằng cách chuyển đổi các phân đoạn Cu di động (EXC-Cu và CAB-Cu) thành các phân đoạn Cu ít di động và bền vững (FEM-Cu, OM-Cu, và RES-Cu) trong đất; dẫn đến nồng độ Cu trong rễ và thân cây cải thìa cũng giảm và cây tăng trưởng hơn. Tuy nhiên, sự giảm nồng độ Cu chỉ có thể xảy ra đáng kể khi ZM ở mức thích hợp (20 g/kg). Ngoài ra, ZM kết hợp với Se lại làm tăng nồng độ Cu trong cây và thúc đẩy sự phát triển của cây cải thìa ở nồng độ Cu thấp (50 mg/kg). Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan tốt giữa tỷ lệ các phân đoạn Cu di động (EXC-Cu và CAB-Cu) với nồng độ Cu trong cây cải thìa và sự phát triển của cây. Nghiên cứu này đã kết luận rằng ZM kết hợp với Se đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn cản sự hấp thụ Cu lên cây ở nồng độ vượt chuẩn thông qua việc biến đổi thành các phân đoạn Cu bền vững.
- Ấn phẩmỨng dụng bột huyền và dịch trích lá huyền (tacca leontopetaloides (l.) kuntze) trong bảo quản xoài Cát Hòa Lộc(Đại học An Giang, 2025) Hồ, Thanh Bình; Vũ, Thị Thanh Đào; Trần, Nghĩa Khang; Trịnh, Thanh DuyNghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của màng sinh học từ bột huyền và dịch trích lá huyền (Tacca leontopetaloides (L.) Kuntze) khi bổ sung để tăng tính kháng khuẩn của màng trong bảo quản xoài Cát Hòa Lộc ở nhiệt độ thường. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc bao màng bằng bột huyền giúp hạn chế hao hụt khối lượng, làm chậm quá trình chuyển hóa hóa học của xoài cũng như giữ màu sắc và cảm quan của xoài tốt hơn. Đồng thời, làm chậm sự phát triển của tổng số vi sinh vật bề mặt nên kéo dài thời gian bảo quản của xoài đến 12 ngày. Nhìn chung, việc bổ sung dịch trích lá huyền tạo một số thay đổi trong quá trình bảo quản nhưng chưa có sự khác biệt ý nghĩa với mẫu bao màng bột huyền đơn thuần.
- Ấn phẩmĐánh giá chất lượng nếp giống (Oryza sativa) ở các lò sấy tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang(Đại học An Giang, 2025) Võ, Thị Hướng Dương; Diệp, Nhựt Thanh Hằng; Nguyễn, Thị Nhã PhươngNghiên cứu được thực hiện trên các mẫu giống lúa nếp thu thập tại các lò sấy của 7 xã trồng nếp ở huyện Phú Tân, An Giang. Kết quả cho thấy trong vụ Hè Thu năm 2022, hầu hết nông dân mua giống ở lò sấy hoặc sử dụng giống nếp tự để giống để sản xuất, trong đó giống nếp IR4625 được trồng chủ yếu (76,25%). Các mẫu nếp thu từ các lò sấy có độ sạch đạt từ 96,57% đến 99,68%, ít lẫn tạp nhưng vẫn thấp hơn tiêu chuẩn giống cấp xác nhận; tỷ lệ hạt khác giống chỉ từ 0,16% đến 0,25% ở 7 mẫu; không bị lẫn hạt giống khác loài và ít tạp chất; tỷ lệ nảy mầm cao (91,00% - 95,00%,) ở 7 mẫu; tỷ lệ cây mầm bình thường đạt từ 73% - 85,25%, nhưng thấp hơn giống cấp xác nhận (91%); có 3 mẫu đạt tiêu chuẩn về độ ẩm (11,9% - 12,83%).
- Ấn phẩmThiết kế hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn toán ở tiểu học(Đại học An Giang, 2025) Chau, Chhay Tan; Huỳnh, Thái LộcBài báo sử dụng phương pháp phân tích tài liệụ nghiên cứu lý luận, quan điểm về hoạt động trải nghiệm (HĐTN) trong nhà trường của các nhà nghiên cứu, nổi bật là vấn đề trải nghiệm của D. Kolb và hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong việc phát triển năng lực (NL) và phẩm chất của học sinh (HS) trong nhà trường, đặc biệt ở cấp Tiểu học là cấp học nền tảng. Từ đó, tác giả khái quát bản chất của hoạt động trải nghiệm là tự mình và trực tiếp. Nghiên cứu tập trung khái quát nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Toán Tiểu học và đề xuất các hình thức thực hiện nhằm đưa hoạt động trải nghiệm trong môn Toán trở nên gần gũi với HS, phát triển năng lực và phẩm chất, đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông.
- Ấn phẩmSo sánh hiệu quả kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến áp dụng tiêu chuẩn chứng nhận ASC ở huyện Đông Hải và Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu(Đại học An Giang, 2025) Huỳnh, Văn Hiền; Nguyễn, Thị Kim Quyên; Đặng, Thị Phượng; Trương, Thị Mỹ LinhNghiên cứu được thực hiện từ tháng 06-12/2020 thông qua phỏng vấn trực tiếp 20 hộ nuôi tôm sú quảng canh cải tiến (QCCT) áp dụng tiêu chuẩn ASC ở huyện Đông Hải (vùng 1) và 20 hộ nuôi ở huyện Giá Rai (vùng 2) nhằm xác định các chỉ tiêu kỹ thuật và tài chính cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất của mô hình này. Phương pháp thống kê mô tả, so sánh giá trị trung bình (T-test) và mô hình hồi quy đa biến được áp dụng. Kết quả cho thấy, diện tích nuôi tôm vùng 1 (2,96±1,63 ha/hộ) cao hơn vùng 2 (1,83±0,84 ha/hộ) nhưng năng suất lại thấp hơn (0,46 tấn/ha/năm so với 0,81 tấn/ha/năm). Tổng chi phí nuôi tôm 2 vùng tương đương nhau nhưng lợi nhuận vùng 1 (51 triệu đồng/ha/năm) thấp hơn vùng 2 (111 triệu đồng/ha/năm) do thả mật độ thấp hơn (2,96 so với 3,58 con/m2), chỉ sử dụng ao vèo và không sử dụng ao lắng nên dẫn đến năng suất thấp và lợi nhuận thấp. Các yếu tố (1) số lần thả giống (lần/năm), (2) thời gian thả giống từ khi cấp nước (ngày), (3) diện tích ao lắng (ha/hộ), (4) diện tích ao vèo (ha/hộ) tác động thuận chiều và (5) độ sâu mương bao (m) tác động nghịch đến năng suất tôm nuôi.
- Ấn phẩmĐánh giá khả năng thay thế bột cá bằng bột ấu trùng ruồi đen (Hermetia illucens) trong thức ăn của cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis)(Đại học An Giang, 2025) Nguyễn, Hữu Yến Nhi; Trịnh, Thị LanNghiên cứu khả năng thay thế bột cá bằng bột ấu trùng ruồi đen (Hermetia illucens) trong khẩu phần ăn của cá Chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis) được bố trí ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Nghiệm thức đối chứng không chứa bột ruồi đen, ba nghiệm thức còn lại bột cá được thay thế bột ruồi đen với các mức 22%, 44% và 56%. Thức ăn thí nghiệm có hàm lượng protein từ 40 - 42%. Cá thí nghiệm có khối lượng trung bình ban đầu là 11,6 g/con và chiều dài 9,8 cm/con được nuôi ở độ mặn 10‰ với mật độ 20 con/bể 400L. Sau 10 tuần nuôi, khối lượng cá đạt trung bình từ 18,43-26,14 g tương ứng với tốc độ tăng trưởng hàng ngày (DWG) từ 0,09-0,2 g/ngày và tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR) từ 0,55- 1,1 %/ngày, trong đó mức thay thế 22% có tốc độ tăng trưởng cao nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của cá ở mức thay thế cao (44% và 56%) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng. Tỉ lệ sống của cá đạt từ 78,33-88,33%, trong đó mức thay thế 22% có giá trị cao nhất và chỉ khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với mức thay thế 44%. Hệ số chuyển hóa thức ăn (2,13-3,28) khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa các nghiệm thức thức ăn và hiệu quả sử dụng protein từ 0,73 - 1,14, trong đó nghiệm thức thay thế 22% và đối chứng tương tự nhau (p>0,05) và cao hơn có ý nghĩa thông kê so với hai nghiệm thức còn lại (p<0,05). Kết quả cho thấy bột ấu trùng ruồi đen có thể thay thế 22% bột cá trong khẩu phần ăn của cá Chẽm mõm nhọn giúp cải thiện tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá.