UHS - Khóa luận tốt nghiệp (Undergraduate Theses)

14 ấn phẩm có sẵn

Những tài liệu tải lên gần đây

Đang hiển thị 1 - 6 của tổng số 14 kết quả
Hiển thị
  • Ấn phẩm
    Nghiên cứu đặc điểm trẻ em tim bẩm sinh không tím có shunt trái – phải thường gặp tại khoa tim mạch Bệnh viện Nhi đồng I từ tháng 9/2017 đến tháng 4/2018
    (Khoa Y, 2018) Trấn, Tấn Đạt; Nguyễn, Thị Ly; Lê, Thị Anh; Nguyễn, Trí Hào; Quan, Thủy Tiên
    Qua nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và biến chứng ở 145 bệnh nhi bị bệnh tim bẩm sinh không tím có shunt trái-phải tại Khoa Tim mạch, Bệnh viện Nhi Đồng I từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: 1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh tim bẩm sinh không tím có shunt trái-phải thường gặp ở trẻ từ 1 tháng đến 14 tuổi 10 tháng.; 2. Tỷ lệ biến chứng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhi tim bẩm sinh không tím có shunt trái-phải thường gặp từ 1 tháng đến 14 tuổi 10 tháng.
  • Ấn phẩm
    Nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất dạng Amphetamine tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh
    (Khoa Y, 2018) Trịnh, Đình Hiếu; Lê, Huỳnh Thanh Lan; Trần, Thị Phượng; Nguyễn, Phương Thảo; Phan, Thị Thủy Tiên; Trịnh, Tất Thắng; Trần, Duy Tâm
    Kết quả nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có triệu chứng loạn thần do sử dụng ATS đến khám tại bệnh viện Tâm thần TP.HCM chủ yếu là nam giới, độ tuổi từ 20 – 39 tuổi chiếm đa số 90,9%, 70% đang độc thân hoặc đã li hôn. Đường dùng chủ yếu là đường hút (92,7%). Rối loạn hoang tưởng là triệu chứng thường gặp nhất khiến bệnh nhân phải đến bệnh viện Tâm thần để điều trị (82,9%); trong đó hoang tưởng bị hại chiếm 53,2%. Rối loạn hành vi xảy ra ở 80,9% bệnh nhân; trong đó kích thích gây gổ chiếm 59%. Rối loạn ảo giác đứng thứ ba với 72,7% bệnh nhân. Đa số những bệnh nhân này thường kèm thêm một triệu chứng rối loạn hoang tưởng (66,4%). Rối loạn cảm xúc chiếm tỷ lệ thấp nhất (43,2%). Biến cố tiêu cực có liên quan đến rối loạn hoang tưởng, ở nhóm có biến cố tiêu cực 96,2% bệnh nhân có rối loạn hoang tưởng, nhóm không biến cố tỉ lệ này thấp hơn là 79,8%. Bệnh nhân sử dụng ATS có xảy ra các biến cố dễ mắc phải rối loạn hoang tưởng gấp 1,21 lần so với nhóm không có biến cố tiêu cực. Thời gian xuất hiện triệu chứng loạn thần có mối liên quan đến rối loạn hành vi và rối loạn hoang tưởng, thời gian <1 tháng tỷ lệ có rối loạn hành vi và rối loạn hoang tưởng lần lượt là 53,3% và 60,0%, 1 – 12 tháng là 81,6% và 91,8% , >12 tháng là 89,1% và 82,6%. Bệnh nhân xuất hiện triệu chứng loạn thần sau khi sử dụng ATS >12 tháng có rối loạn hành vi cao gấp 1,67 lần so với bệnh nhân xuất hiện triệu chứng loạn thần sau sử dụng ATS < 1 tháng. Bệnh nhân xuất hiện triệu chứng loạn thần sau khi sử dụng ATS >1 tháng có rối loạn hoang tưởng cao gấp 1,53 lần so với bệnh nhân xuất hiện triệu chứng loạn thần sau sử dụng ATS < 1 tháng. Ngoài ra qua phân tích chúng tôi còn thấy yếu tố tiền sử gia đình, bạn bè có liên quan đến các rối loạn cảm xúc; nhóm có tiền căn, 57,9% đối tượng có rối loạn cảm xúc; nhóm không tiền căn, 35,5% đối tượng có rối loạn cảm xúc. Nhóm bệnh nhân có tiền căn gia đình và bạn bè thì khả năng xuất hiện triệu chứng rối loạn cảm xúc cao hơn 1,54 lần so với nhóm không tiền căn gia đình. Việc tiếp xúc và chẩn đoán những đối tượng loạn thần do sử dụng ATS thực sự gặp rất nhiều khó khăn, nghiên cứu này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về đặc điểm dân số xã hội học ở nhóm người này. Qua đó đề ra những biện pháp kịp thời ngăn chặn tình trạng này với các cấp, ban ngành khác nhau.
  • Ấn phẩm
    Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng xì miệng nối sau phẫu thuật cắt ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Bình Dân Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 – 2018
    (Khoa Y, 2018) Trần, Vi Điển; Nguyễn, Hữu Diệu; Hồ, Tuấn Dũng; Phạm, Thị Kim Hoàng; Nguyễn, Bảo Lục; Diệp, Thời Minh Ngọc; Lê, Quang Nghĩa; Trần, Văn Minh Tuấn
    Ung thư đại trực tràng là một trong những ung thư phổ biến thứ ba trên thế giới và là nguyên nhân phổ biến thứ tư gây tử vong do ung thư. Tỷ lệ ung thư đại trực tràng ở các nước phương Tây tăng lên qua mỗi năm. Theo thống kê năm 2017 ở Mỹ có 95.520 ca ung thư đại tràng, 39.910 ca ung thư trực tràng mới được chẩn đoán, và có 50.260 ca tử vong vì ung thư đại trực tràng. Điều trị triệt để ung thư đại trực tràng chủ yếu là phẫu thuật, do đó sẽ có một tỷ lệ biến chứng có thể xảy ra. Các biến chứng thường gặp sau phẫu thuật cắt đại trực tràng bao gồm: nhiễm trùng vết mổ (2 – 25%), xì miệng nối (2,9 – 15,3%), áp xe ổ bụng, chảy máu sau mổ, liệt ruột.
  • Ấn phẩm
    Bước đầu đánh giá giá trị mảnh tiểu cầu chưa trưởng thành trên người bệnh giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên và giảm tiểu cầu do bệnh lý tại tuỷ
    (Khoa Y, 2018) Trần, Hữu Chí; Dương, Hải; Trần, Tuấn Khôi; Nguyễn, Tấn Thịnh; Nguyễn, Hoàng Thông; Phù, Chí Dũng; Huỳnh, Thị Bích Huyền
    Bệnh lý giảm tiểu cầu là một bệnh thường gặp trên thực hành lâm sàng Việc xác định giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên (NNNB) và giảm tiểu cầu do bệnh lý tại tủy (BLTT) là một thách thức lớn cho các bác sĩ điều trị. Trong khi việc khảo sát tủy xương dùng để chẩn đoán loại trừ các nguyên nhân tại tuỷ không được khuyến cáo thường quy ở mọi bệnh nhân. Gần đây, xét nghiệm và đánh giá mảnh tiểu cầu chưa trưởng thành (IPF) đã được một số nghiên cứu trên thế giới kết luận có ý nghĩa quan trọng trong hỗ trợ chẩn đoán bệnh lý này.
  • Ấn phẩm
    Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng viêm màng bồ đào trẻ em tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017
    (Khoa Y, 2018) Phạm, Thị Thảo Quyên; Trần, Ngọc Thịnh; Chế, Thị Thu Thương; Nguyễn, Thị Thu Thủy; Trần, Anh Tuấn; Nguyễn, Như Quân; Trần, Hồng Bảo
    Viêm màng bồ đào (MBĐ) là một bệnh lý mắt khá phổ biến. Trong nhãn khoa, viêm MBĐ là một bệnh cấp tính do căn nguyên phức tạp, tổn thương lâm sàng thường nặng nề, nhiều biến chứng, hay tái phát và có thể dẫn đến mù lòa. Nguyên nhân bệnh sinh gây viêm MBĐ khá phức tạp. Bệnh có thể do căn nguyên ngoại sinh (chấn thương, phẫu thuật, loét giác mạc thủng…) hoặc căn nguyên nội sinh do phản ứng miễn dịch tại thành mạch trong bệnh lý nhiễm trùng (vi khuẩn, vi rút, nấm, kí sinh trùng), trong bệnh lý dị ứng, nhiễm độc hoặc bệnh lý tự miễn toàn thân. Nguyên nhân phổ biến của viêm MBĐ trước ở trẻ em là bệnh viêm khớp tự phát. Nguyên nhân phổ biến gây mất thị lực ở bệnh nhi viêm MBĐ trước là đục thủy tinh thể, thoái hóa giác mạc dải băng, glô-côm , phù hoàng điểm dạng nang. Mất thị lực nặng có ước tính xảy ra ở 25% đến 30% trường hợp viêm MBĐ trẻ em.
  • Ấn phẩm
    Tỷ lệ sản phụ cho con bú sớm sau sinh và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2017 đến 12/2017
    (Khoa Y, 2018) Nguyễn, Thị Thúy Hằng; Đặng, Thị Hạnh; Văn, Thị Ánh Hòa; Hoàng, Nam Phương; Nguyễn, Đinh Tuấn; Trần, Thị Lợi
    MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định tỷ lệ sản phụ cho con bú sớm sau sinh và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2017 đến tháng 12/2017. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu là 385 sản phụ đến sinh con ngả âm đạo tại bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2017 đến tháng 12/2017 thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu. KẾT QUẢ • Tỷ lệ sản phụ cho con bú sớm sau sinh là 26,2% (101/385). • Các yếu tố liên quan: Có 1 yếu tố liên quan đến tình trạng cho con bú sớm sau sinh của sản phụ là: nhân viên y tế nhắc cho con bú sớm với OR=2,89; KTC-95%=(1,78- 4,69); p= 0,01. • Những yếu tố không liên quan: về nhóm tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, nơi ở, trình độ văn hóa, điều kiện kinh tế, số con đã có, vắt bỏ sữa đầu, nghe nói tác dụng sữa mẹ, hiểu biết tác dụng của sữa non và nguồn thông tin về sữa mẹ là các yếu tố không liên quan đến tình trạng cho con bú sớm sau sinh. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu chỉ thu thập thông tin ở sản phụ tại một bệnh viện nên vẫn chưa thể có tính đại diện cho toàn thể dân số phụ nữ. KIẾN NGHỊ • Khuyến khích bác sĩ sản khoa và nữ hộ sinh nhắc nhở sản phụ cho con bú sớm sau sinh. • Tăng cường hướng dẫn sản phụ cho con bú ngay sau sinh tại phòng sanh và phòng lưu Khoa Sanh.• Bổ sung tờ bướm về kiến thức liên quan tới lợi ích của sữa mẹ và bú sớm sau sinh cho các sản phụ tại các phòng khám thai của bệnh viện.