05. Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (University of Health Sciences)
Duyệt 05. Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (University of Health Sciences) theo Nhan đề
- Ấn phẩmBước đầu đánh giá giá trị mảnh tiểu cầu chưa trưởng thành trên người bệnh giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên và giảm tiểu cầu do bệnh lý tại tuỷ(Khoa Y, 2018) Trần, Hữu Chí; Dương, Hải; Trần, Tuấn Khôi; Nguyễn, Tấn Thịnh; Nguyễn, Hoàng Thông; Phù, Chí Dũng; Huỳnh, Thị Bích HuyềnBệnh lý giảm tiểu cầu là một bệnh thường gặp trên thực hành lâm sàng Việc xác định giảm tiểu cầu do nguyên nhân ngoại biên (NNNB) và giảm tiểu cầu do bệnh lý tại tủy (BLTT) là một thách thức lớn cho các bác sĩ điều trị. Trong khi việc khảo sát tủy xương dùng để chẩn đoán loại trừ các nguyên nhân tại tuỷ không được khuyến cáo thường quy ở mọi bệnh nhân. Gần đây, xét nghiệm và đánh giá mảnh tiểu cầu chưa trưởng thành (IPF) đã được một số nghiên cứu trên thế giới kết luận có ý nghĩa quan trọng trong hỗ trợ chẩn đoán bệnh lý này.
- Ấn phẩmĐặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và đáp ứng điều trị bệnh sốt rét tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh từ 2015 đến 2017(Khoa Y, 2018) Cao, Xuân Nam; Nguyễn, Thiên Đức; Huỳnh, Hữu Triết; Huỳnh, Công Tín; Nguyễn, Xuân Toàn; Nguyễn, Hoan Phú; Phạm, Trần Diệu Hiền; Phạm, Kiều Nguyệt OanhMục tiêu nghiên cứu: Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở bệnh nhân sốt rét tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới từ năm 2015 đến hết năm 2017. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả hàng loạt ca. Kết quả: P. falciparum và P. vivax chiếm ưu thế, P. falciparum tăng dần qua các năm, P. vivax giảm dần qua các năm, P. malariae thấp, có xu hướng tăng. Đối tượng mắc bệnh chủ yếu là nam, trong độ tuổi lao động. Vùng dịch tễ Campuchia và Châu Phi chiếm tỉ lệ cao (20%). Về lâm sàng: lạnh run, sốt, vã mồ hôi vẫn là ba triệu chứng thường gặp nhất trên bệnh nhân sốt rét, nhưng trong đó cơn sốt rét điển hình chỉ chiếm 46%. Cận lâm sàng: giảm tiểu cầu rất thường gặp chiếm hơn 80%, mật độ ký sinh trùng cao gặp ở P. falciparum là chủ yếu. Kết quả điều trị: thời gian sốt trung bình, thời gian sạch ký sinh trùng kéo dài hơn so với trước đây. Thất bại sớm: 7,4%. Sạch KST > 72h: 9,4%. Tỉ lệ tử vong thấp < 1%. Có 4 ca sốt rét ác tính do P. vivax, trong đó không có ca tử vong. Kết luận: Vùng dịch tễ từ nước ngoài bao gồm Campuchia và Châu Phi chiếm tỉ lệ cao 20%. Tỉ lệ sạch KST sốt rét sau 72h, thất bại sớm ngày càng tăng cảnh báo về nguy cơ kháng thuốc.
- Ấn phẩmĐặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở bệnh nhân viêm não kháng NMDAR tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh từ 1/2015 đến 3/2018(Khoa Y, 2018) Lê, Thị Hà Xuyên; Lương, Trường Khang; Nguyễn, Thị Lệ Quyên; Phạm, Văn Tân; Bùi, Quang Trí; Nguyễn, Hoan Phú; Nguyễn, Hồ Hồng HạnhMục tiêu: 1. Khảo sát đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị sau nhập viện ở bệnh nhân viêm não kháng NMDAR ở BVBNĐ TPHCM. 2. Xác định kết quả và các yếu tố liên quan đến tiên lượng tốt sau điều trị ở bệnh nhân viêm não kháng NMDAR. Đối tượng nghiên cứu: 31 bệnh nhân viêm não kháng NMDAR được điều trị tại BV BNĐ TPHCM từ 01/012015 – 30/03/2018. Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo hàng loạt ca. Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm não kháng NMDAR khi có test tìm kháng thể trong DNT dương tính. Những trường hợp từ tháng 3/2016 trở về trước được thực hiện hồi cứu mẫu DNT, sau tháng 3/2016 xét nghiệm được thực hiện trong thời gian bệnh nhân nằm viện. Thu thập số liệu bằng bảng câu hỏi: hành chính, bệnh sử, tình trạng lúc nhập viện, cận lâm sàng lúc nhập viện, xuất viện, phương pháp và thời gian điều trị, biến cố mắc phải, kết quả điều trị. Theo dõi đáp ứng bằng cách gọi điện hỏi, đánh giá theo thang điểm Rankin. Kết quả nghiên cứu Các bệnh nhân có độ tuổi trung vị là 23, không có sự khác biệt giữa nam và nữ mắc bệnh. Có 74,1% bệnh nhân được nhập bệnh viện tâm thần trước đó. Triệu chứng rối loạn tâm thần và rối loạn vận động gặp ở tất cả các bệnh nhân, trong đó nổi bật nhất là rối loạn lời nói (90,3%); thay đổi nhân cách (83,9%); cắn lưỡi, nhai miệng (87,1%); gồng cứng, uốn vặn (87,1%). Về xét nghiệm, có 5 bệnh nhân có bất thường về hình ảnh học sọ não, 5 bệnh nhân tìm thấy khối u buồng trứng. Có 3 trường hợp tử vong trong quá trình nằm viện, 1 trường hợp tử vong tại bệnh viện PHCN, các trường hợp tử vong đều do biến chứng nhiễm trùng bệnh viện, không phải do diễn tiến tự nhiên của bệnh. Đánh giá hồi phục sau 6 tháng, có 50,0% trường hợp trở về công việc bình thường; sau 1 năm, 100,0% các trường hợp trở về bình thường.
- Ấn phẩmĐặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng viêm màng bồ đào trẻ em tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017(Khoa Y, 2018) Phạm, Thị Thảo Quyên; Trần, Ngọc Thịnh; Chế, Thị Thu Thương; Nguyễn, Thị Thu Thủy; Trần, Anh Tuấn; Nguyễn, Như Quân; Trần, Hồng BảoViêm màng bồ đào (MBĐ) là một bệnh lý mắt khá phổ biến. Trong nhãn khoa, viêm MBĐ là một bệnh cấp tính do căn nguyên phức tạp, tổn thương lâm sàng thường nặng nề, nhiều biến chứng, hay tái phát và có thể dẫn đến mù lòa. Nguyên nhân bệnh sinh gây viêm MBĐ khá phức tạp. Bệnh có thể do căn nguyên ngoại sinh (chấn thương, phẫu thuật, loét giác mạc thủng…) hoặc căn nguyên nội sinh do phản ứng miễn dịch tại thành mạch trong bệnh lý nhiễm trùng (vi khuẩn, vi rút, nấm, kí sinh trùng), trong bệnh lý dị ứng, nhiễm độc hoặc bệnh lý tự miễn toàn thân. Nguyên nhân phổ biến của viêm MBĐ trước ở trẻ em là bệnh viêm khớp tự phát. Nguyên nhân phổ biến gây mất thị lực ở bệnh nhi viêm MBĐ trước là đục thủy tinh thể, thoái hóa giác mạc dải băng, glô-côm , phù hoàng điểm dạng nang. Mất thị lực nặng có ước tính xảy ra ở 25% đến 30% trường hợp viêm MBĐ trẻ em.
- Ấn phẩmĐặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng xì miệng nối sau phẫu thuật cắt ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Bình Dân Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 – 2018(Khoa Y, 2018) Trần, Vi Điển; Nguyễn, Hữu Diệu; Hồ, Tuấn Dũng; Phạm, Thị Kim Hoàng; Nguyễn, Bảo Lục; Diệp, Thời Minh Ngọc; Lê, Quang Nghĩa; Trần, Văn Minh TuấnUng thư đại trực tràng là một trong những ung thư phổ biến thứ ba trên thế giới và là nguyên nhân phổ biến thứ tư gây tử vong do ung thư. Tỷ lệ ung thư đại trực tràng ở các nước phương Tây tăng lên qua mỗi năm. Theo thống kê năm 2017 ở Mỹ có 95.520 ca ung thư đại tràng, 39.910 ca ung thư trực tràng mới được chẩn đoán, và có 50.260 ca tử vong vì ung thư đại trực tràng. Điều trị triệt để ung thư đại trực tràng chủ yếu là phẫu thuật, do đó sẽ có một tỷ lệ biến chứng có thể xảy ra. Các biến chứng thường gặp sau phẫu thuật cắt đại trực tràng bao gồm: nhiễm trùng vết mổ (2 – 25%), xì miệng nối (2,9 – 15,3%), áp xe ổ bụng, chảy máu sau mổ, liệt ruột.
- Ấn phẩmĐặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị viêm ruột thừa cấp sau manh tràng từ 06/2017 đến 04/2018(Khoa Y, 2018) Lê, Tuấn Anh; Trần, Viết Bảo; Phạm, Ngọc Huy; Nguyễn, Long Hải; Nguyễn, Thị Thanh Huyền; Lê, Văn Quang; Hồ, Hữu ĐứcViêm ruột thừa sau manh tràng có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng độ tuổi thường tập trung chủ yếu ở tuổi từ 20 đến 40 tuổi, tỷ lệ nam : nữ tương ứng 21:20. Về lâm sàng vẫn chia sẻ nhiều đặc điểm của bệnh cảnh viêm ruột thừa nói chung: khởi phát với cơn đau âm ỉ liên tục chiếm đến 87.8%, nhưng vị trí đau đặc hiệu tại vùng hố chậu phải thấp hơn đáng kể, chỉ với 58.6%. Giá trị của siêu âm trong xác nhận chẩn đoán viêm ruột thừa sau manh tràng là rất thấp so với các gía trị kỳ vọng mà y văn ghi nhận đối với bệnh cảnh viêm ruột thừa chung. Chỉ phát hiện được viêm ruột thừa trên 36.6% và chỉ ra được vị trí sau manh tràng chỉ với 2.4%, và còn phụ thuộc nhiều vào tình trạng viêm dính của ruột thừa. CT vẫn là công cụ có giá trị tốt trong xác nhận chẩn đoán viêm ruột thừa thậm chí chỉ ra chính xác vị trí ruột thừa viêm nằm sau manh tràng, tuy nhiên vì nhiều lý do vẫn chưa được áp dụng rộng rãi trên lâm sàng kể cả khi tiếp cận những trường hợp bệnh không điền hình. Giá trị bạch cầu, tỷ lệ đa nhân trung tính và CRP máu định lượng cho thấy mức độ nhạy khá cao trong chẩn đoán, tuy nhiên đặc hiệu khá thấp. Các biến chứng của viêm ruột thừa cấp sau manh tràng cho thấy tỷ lệ tăng rất nhiều so với tỷ lệ của bệnh cảnh viêm ruột thừa chung.
- Ấn phẩmĐặc điểm tổn thương móng trên bệnh nhân vảy nến khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh(Khoa Y, 2018) Lê, Hiếu; Lương, Minh Hải; Phạm, Minh Hoàng; Chu, Quang Giang; Kiều, Tiến Lực; Phạm, Văn Bắc; Nguyễn, Tâm AnhMục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm tổn thƣơng móng ở những bệnh nhân vảy nến đến khám và điệu trị tại bệnh viện Da Liễu TPHCM. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca trên 222 trường hợp bệnh nhân vảy nến đến khám và điều trị tại bệnh viện Da Liễu TPHCM từ 01/09/2017 - 30/04/2018. Kết luận: Số lượng móng tổn thương trung bình là 12.0 ± 7.4 móng, chi trên 6.6 ± 3.8 móng và chi dưới 5.4 ± 3.9 móng. Tổn thương móng là đối xứng 2 bên. Trong tổn thương móng, rỗ móng (86.0%), tăng sừng dưới móng (78.7%) và vệt dầu loang (60.1%) thường gặp nhất, ít nhất là dấu đỏ (0.6%). Bệnh nhân nam có tỉ lệ tổn thương móng cao gấp 2.5 lần bệnh nhân nữ, OR = 2.5 (1.2-4.9), p = 0.009. Tỉ lệ bệnh nhân có tuổi khởi phát nhỏ hơn 40 có tổn thương móng gấp 2.2 lần so với nhóm có tuổi khởi phát lớn hơn 40 tuổi, OR = 2.2 (1.2-3.9), p = 0.01. Tỉ lệ bệnh nhân có thời gian bệnh nhỏ hơn 5 năm có tổn thƣơng móng bằng 0.3 lần so với nhóm có thời gian bệnh 5 năm trở lên,OR = 0.3 (0.1-0.5), p = 0.000. Nhóm bệnh nhân vảy nến mức độ nhẹ (PASI <10) có tổn thương móng chỉ bằng 10% so với nhóm bệnh nhân vảy nến mức độ trung bình đến nặng (PASI>10), OR = 0.1 (0.1-0.3), p = 0.000). Trong nhóm bệnh nhân không có tổn thƣơng móng, điểm PASI trung bình là 8.9 ± 6.2, còn nhóm có tổn thƣơng móng là 16.1 ± 9.2. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị t = 5.7, p = 0.000
- Ấn phẩmKhảo sát đặc điểm kết cục thai kỳ những trường hợp đái tháo đường thai kỳ nhập viện và điều trị tại Bệnh viện Từ Dũ(Khoa Y, 2018) Lê, Thanh Nghị; Nguyễn, Thị Cẩm Nhung; Vũ, Thị Thuỳ Trang; Lê, Đức Minh Trí; Nguyễn, Thị Yến; Trần, Huy DũngĐái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là tình trạng rối loạn dung nạp đường xảy ra trong thời kỳ mang thai, gây nên nhiều kết cục bất lợi cho cả mẹ và con. Tỷ lệ mắc từng kết cục thay đổi qua nhiều nghiên cứu, thống kê tỷ lệ mắc các kết cục này cho nhà sản khoa một cái nhìn bao quát về thai kỳ nguy cơ cao, từ đó chuẩn bị một thái độ theo dõi và xử trí phù hợp hơn. Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm kết cục thai kỳ những trường hợp đái tháo đường thai kỳ nhập viện và điều trị tại bệnh viện Từ Dũ để từ đó đưa ra tỷ lệ các kết cục và nêu lên một số kiến nghị cho bệnh ĐTĐTK hiện tại. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi quan sát mô tả kết cục thai kỳ của 101 sản phụ ĐTĐTK nhập viện và điều trị tại bệnh viện Từ Dũ ghi nhận 77,2% trường hợp có kết quả thai kỳ bất lợi. Trong đó kết cục thường gặp nhất trên mẹ là sinh mổ (54,5%) và kết cục thường gặp nhất trên con là con to (12,9%), kế đến là các kết cục ít gặp hơn như sinh non, rối loạn huyết áp thai kỳ, sinh giúp, băng huyết sau sinh, đa ối, ngạt sơ sinh, thai nhỏ, hạ đường huyết sơ sinh, tăng bilirubin và tử vong chu sinh do dị tật tim và sinh cực non. Nghiên cứu của chúng tôi thống kê thấy rằng tuổi, thừa cân, béo phì trước khi mang thai và tăng cân quá mục tiêu trong thai kỳ là những YTNC hay gặp nhất ở những thai phụ ĐTĐTK. Tuy nhiên nghiên cứu chúng tôi là chỉ mô tả các kết cục thai kỳ mà chưa so sánh tỷ lệ kết cục thai kỳ bất lợi giữa nhóm kiểm soát đường huyết tốt và nhóm kiểm soát không tốt để thấy được tầm quan trọng của việc điều trị. Từ những kết quả thu thập được, chúng tôi đề xuất thực hiện các nghiên cứu tìm ra mối liên quan giữa ĐTĐTK và kết cục thai chậm tăng trưởng để đưa ra chế độ theo dõi và điều trị phù hợp hơn.
- Ấn phẩmKhảo sát đặc điểm lâm sàng và thính học của bệnh nhân điếc đột ngột ở Bệnh viện Tai Mũi Họng Thành phố Hồ Chí Minh(Khoa Y, 2018) Nguyễn, Thị Hà; Lê, Khánh Mão; Ngyễn, Hoàng Phong; Nguyễn, Hoàng Anh Phương; Nguyễn, Đức Thắng; Trần, Phan Chung Thủy; Nguyễn, Thanh VũHọa sĩ biếm họa Frank Tyger từng nói rằng: “Thính giác là một trong năm giác quan của con người, nhưng lắng nghe là nghệ thuật”. Nghe là một trong năm giác quan của con người, giúp con người thu nhận các thông tin từ môi trường để có thể sống, thích ứng và hòa nhập được với môi trường, nghe được mới nói được, mới hình thành được ngôn ngữ, và tiếng nói ngôn ngữ lại là công cụ giao tiếp xã hội giữa người với người, là cơ sở để phát triển tư duy ý thức. Tuy nhiên, nếu như chức năng này bị suy giảm, hoặc cụ thể hơn là đột ngột biến mất thì cuộc sống của chúng ta sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Và điếc đột ngột là một tình trạng như vậy. Điếc đột ngột là 1 bệnh cấp cứu nội khoa trong Tai Mũi Họng và nguyên nhân trực tiếp hiện nay vẫn chưa rõ ràng.
- Ấn phẩmKhảo sát tình hình sử dụng các phương tiện truyền thông trong phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của thân nhân bệnh nhi tại phòng khám Bệnh viện Nhi đồng 1(Khoa Y, 2018) Hoàng, Thị Anh Châu; Lê, Đại Chiến; Thái, Ngọc Thành Đạt; Tạ, Hoàng Hồng Phượng; Lê, Chế Quỳnh Trâm; Nguyễn, Minh TuấnBệnh sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nhiều biến chứng, dễ gây tử vong ở trẻ em và có tỉ lệ nhập viện cao ở Bệnh viện Nhi Đồng 1. Bệnh chưa có điều trị đặc hiệu, biện pháp chủ yếu để giảm tỉ lệ mắc bệnh chỉ là phòng ngừa. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tình hình sử dụng các phương tiện truyền thông trong phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của thân nhân bệnh nhi đến khám tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả trên 390 thân nhân của bệnh nhi được chẩn đoán là sốt xuất huyết Dengue và 389 thân nhân bệnh nhi bị sốt do nguyên nhân khác đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 1.
- Ấn phẩmKhảo sát tỷ lệ phụ nữ áp dụng biện pháp tránh thai sau sinh và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 08/2017 đến 04/2018(Khoa Y, 2018) Nguyễn, Quang Phát; Nguyễn, Thanh Lịch; Võ, Thị Tám; Văn, Thị Bích Trâm; Phạm, Thị Thanh Tú; Trần, Thị LợiTỷ lệ phụ nữ áp dụng biện pháp tránh thai sau sinh từ 2 đến 6 tháng là 38,6% (149/386). Có 1 yếu tố liên quan có ý nghĩa (p<0,05) đến tình trạng sử dụng biện pháp tránh thai sau sinh là hoạt động quan hệ tình dục. Những yếu tố về tuổi mẹ, tuổi sinh con lần đầu, nơi ở, nghề nghiệp, tôn giáo, học vấn, số con hiện tại và ước muốn có con, tuổi con, giới tính con hiện tại, cách sinh con lần trước, cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ, kinh nguyệt sau sinh là các yếu tố không liên quan đến tỷ lệ phụ nữ áp dụng các biệp pháp tránh thai sau sinh.
- Ấn phẩmNghiên cứu đặc điểm trẻ em tim bẩm sinh không tím có shunt trái – phải thường gặp tại khoa tim mạch Bệnh viện Nhi đồng I từ tháng 9/2017 đến tháng 4/2018(Khoa Y, 2018) Trấn, Tấn Đạt; Nguyễn, Thị Ly; Lê, Thị Anh; Nguyễn, Trí Hào; Quan, Thủy TiênQua nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và biến chứng ở 145 bệnh nhi bị bệnh tim bẩm sinh không tím có shunt trái-phải tại Khoa Tim mạch, Bệnh viện Nhi Đồng I từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: 1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh tim bẩm sinh không tím có shunt trái-phải thường gặp ở trẻ từ 1 tháng đến 14 tuổi 10 tháng.; 2. Tỷ lệ biến chứng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhi tim bẩm sinh không tím có shunt trái-phải thường gặp từ 1 tháng đến 14 tuổi 10 tháng.
- Ấn phẩmNghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất dạng Amphetamine tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh(Khoa Y, 2018) Trịnh, Đình Hiếu; Lê, Huỳnh Thanh Lan; Trần, Thị Phượng; Nguyễn, Phương Thảo; Phan, Thị Thủy Tiên; Trịnh, Tất Thắng; Trần, Duy TâmKết quả nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có triệu chứng loạn thần do sử dụng ATS đến khám tại bệnh viện Tâm thần TP.HCM chủ yếu là nam giới, độ tuổi từ 20 – 39 tuổi chiếm đa số 90,9%, 70% đang độc thân hoặc đã li hôn. Đường dùng chủ yếu là đường hút (92,7%). Rối loạn hoang tưởng là triệu chứng thường gặp nhất khiến bệnh nhân phải đến bệnh viện Tâm thần để điều trị (82,9%); trong đó hoang tưởng bị hại chiếm 53,2%. Rối loạn hành vi xảy ra ở 80,9% bệnh nhân; trong đó kích thích gây gổ chiếm 59%. Rối loạn ảo giác đứng thứ ba với 72,7% bệnh nhân. Đa số những bệnh nhân này thường kèm thêm một triệu chứng rối loạn hoang tưởng (66,4%). Rối loạn cảm xúc chiếm tỷ lệ thấp nhất (43,2%). Biến cố tiêu cực có liên quan đến rối loạn hoang tưởng, ở nhóm có biến cố tiêu cực 96,2% bệnh nhân có rối loạn hoang tưởng, nhóm không biến cố tỉ lệ này thấp hơn là 79,8%. Bệnh nhân sử dụng ATS có xảy ra các biến cố dễ mắc phải rối loạn hoang tưởng gấp 1,21 lần so với nhóm không có biến cố tiêu cực. Thời gian xuất hiện triệu chứng loạn thần có mối liên quan đến rối loạn hành vi và rối loạn hoang tưởng, thời gian <1 tháng tỷ lệ có rối loạn hành vi và rối loạn hoang tưởng lần lượt là 53,3% và 60,0%, 1 – 12 tháng là 81,6% và 91,8% , >12 tháng là 89,1% và 82,6%. Bệnh nhân xuất hiện triệu chứng loạn thần sau khi sử dụng ATS >12 tháng có rối loạn hành vi cao gấp 1,67 lần so với bệnh nhân xuất hiện triệu chứng loạn thần sau sử dụng ATS < 1 tháng. Bệnh nhân xuất hiện triệu chứng loạn thần sau khi sử dụng ATS >1 tháng có rối loạn hoang tưởng cao gấp 1,53 lần so với bệnh nhân xuất hiện triệu chứng loạn thần sau sử dụng ATS < 1 tháng. Ngoài ra qua phân tích chúng tôi còn thấy yếu tố tiền sử gia đình, bạn bè có liên quan đến các rối loạn cảm xúc; nhóm có tiền căn, 57,9% đối tượng có rối loạn cảm xúc; nhóm không tiền căn, 35,5% đối tượng có rối loạn cảm xúc. Nhóm bệnh nhân có tiền căn gia đình và bạn bè thì khả năng xuất hiện triệu chứng rối loạn cảm xúc cao hơn 1,54 lần so với nhóm không tiền căn gia đình. Việc tiếp xúc và chẩn đoán những đối tượng loạn thần do sử dụng ATS thực sự gặp rất nhiều khó khăn, nghiên cứu này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về đặc điểm dân số xã hội học ở nhóm người này. Qua đó đề ra những biện pháp kịp thời ngăn chặn tình trạng này với các cấp, ban ngành khác nhau.
- Ấn phẩmTỷ lệ sản phụ cho con bú sớm sau sinh và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2017 đến 12/2017(Khoa Y, 2018) Nguyễn, Thị Thúy Hằng; Đặng, Thị Hạnh; Văn, Thị Ánh Hòa; Hoàng, Nam Phương; Nguyễn, Đinh Tuấn; Trần, Thị LợiMỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định tỷ lệ sản phụ cho con bú sớm sau sinh và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2017 đến tháng 12/2017. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu là 385 sản phụ đến sinh con ngả âm đạo tại bệnh viện Từ Dũ từ tháng 10/2017 đến tháng 12/2017 thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu. KẾT QUẢ • Tỷ lệ sản phụ cho con bú sớm sau sinh là 26,2% (101/385). • Các yếu tố liên quan: Có 1 yếu tố liên quan đến tình trạng cho con bú sớm sau sinh của sản phụ là: nhân viên y tế nhắc cho con bú sớm với OR=2,89; KTC-95%=(1,78- 4,69); p= 0,01. • Những yếu tố không liên quan: về nhóm tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, nơi ở, trình độ văn hóa, điều kiện kinh tế, số con đã có, vắt bỏ sữa đầu, nghe nói tác dụng sữa mẹ, hiểu biết tác dụng của sữa non và nguồn thông tin về sữa mẹ là các yếu tố không liên quan đến tình trạng cho con bú sớm sau sinh. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu chỉ thu thập thông tin ở sản phụ tại một bệnh viện nên vẫn chưa thể có tính đại diện cho toàn thể dân số phụ nữ. KIẾN NGHỊ • Khuyến khích bác sĩ sản khoa và nữ hộ sinh nhắc nhở sản phụ cho con bú sớm sau sinh. • Tăng cường hướng dẫn sản phụ cho con bú ngay sau sinh tại phòng sanh và phòng lưu Khoa Sanh.• Bổ sung tờ bướm về kiến thức liên quan tới lợi ích của sữa mẹ và bú sớm sau sinh cho các sản phụ tại các phòng khám thai của bệnh viện.