CL - JDP (Journal Donation Project)
Đây là bộ sưu tập gồm những bài dịch từ các tạp chí ngoại văn chuyên ngành: Nhân học, Xã hội học, Kiến trúc và quy hoạch đô thị, Nghệ thuật đương đại, Môi trường,…được dịch từ các chuyên gia thuộc tổ chức JDP (Journal Donation Project) tại Việt Nam. Tài liệu trong bộ sưu tập được tham khảo tại website: http://www.newschool.edu/cps/subpage.aspx?id=53035
Duyệt CL - JDP (Journal Donation Project) theo Nhan đề
- Ấn phẩmÂm thanh của Berlin: văn hóa nhóm và ngành công nghiệp âm nhạc thế giới = The Sound of Berlin: Subculture and the Global Music Industry(2009-03) Bader, Ingo; Scharenberg, AlbertTrong những năm gần đây, Berlin đã trở thành một thành phố truyền thông quốc tế. Chủ đề của chúng tôi đưa ra là: một nguyên nhân cơ bản cho sự phát triển này có thể được thấy trong văn hóa nhóm năng động của thành phố. Trong những năm 1990, toàn cảnh âm nhạc và câu lạc bộ đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt tại những khu vực nội đô đang trong quá trình phi công nghiệp hóa, từ đó tạo điều kiện cho các công ty âm nhạc và truyền thông lớn chuyển tới Berlin. Sự nổi lên của bối cảnh âm nhạc điện tử và techno Berlin, và gần đây là của hip-hop, đối với một quận văn hóa thành công, do đó gắn liền với sự chuyển mình của đô thị kể từ khi Bức tường Berlin sụp đổ, cũng như đối với vai trò ngày càng quan trọng của ‘tầng lớp sáng tạo trong nền công nghiệp địa phương. Bài viết này nghiên cứu mối liên hệ giữa môi trường đô thị địa phương cụ thể của thành phố Berlin với sự phát triển và nổi lên của môi trường văn hóa nhóm và sáng tạo của nó. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nền văn hóa nhóm và ngành công nghiệp âm nhạc, không thể được miêu tả đơn giản là thương mại hóa tổ chức hoạt động ngầm và công dụng của nó như một thương hiệu. Thay vì đó, nó làm nổi bật thực tế là sự hội nhập năng động của các quận sáng tạo sản xuất âm nhạc văn hóa nhóm đang trở thành một trong những mô hình tổ chức của ngành công nghiệp.
- Ấn phẩmẢnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước ngầm ven biển = Effects of climate change on coastal fresh groundwater resources(2010) Ranjan, Priyantha; Kazama, So; Sawamoto, MasakiNghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước ngầm bị xâm nhập mặn các trong tầng chứa nước ngầm ven biển. Đánh giá của chúng tôi được dựa trên mô hình khí hậu Hadley Centre, HadCM3, với kịch bản phát thải cao và thấp (SRES A2 và B2) cho giai đoạn năm 2000- 2099. Trong cả hai kịch bản, các nguồn tài nguyên nước ngầm bị thiệt hại hàng năm cho thấy xu hướng ngày càng tăng sự thiếu hụt nước ở tất cả các vùng nghiên cứu, ngoại trừ khu vực phía bắc châu Phi/Sahara. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng, đơn thuần lượng mưa và nhiệt độ không thể hiện mối tương quan cao với sự giảm sút nguồn nước ngầm. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chỉ số khô hạn và mất nước ngầm lại có mối tương quan nghịch chặt chẽ. Chúng tôi cũng thảo luận về tác động của sự giảm sút tài nguyên nước ngầm với các hoạt động kinh tế-xã hội, chủ yếu về tăng trưởng dân số và bình quân tài nguyên nước ngầm trên đầu người.
- Ấn phẩmAsian in the walters art museum(2009) R. Johnsto, WilliamBảo tàng nghệ thuật Walters William và Henry Walters: Những nhà sưu tập tiên phong và những người xúc tiến nghệ thuật Châu Á. William Walters: Nhà sưu tập Hoa Kỳ tiên phong đối với nghệ thuật Châu Á Khi cuộc nội chiến Mỹ nổ ra vào năm 1861, William Walters (1819-1894), một thương nhân bán rượu whisky ở Baltimore và nhà đầu tư vào ngành đường sắt, đối mặt với khó khăn giống như rất nhiều đồng bào của ông. Đóng góp cuối cùng của William Walters cho việc nghiên cứu và ngợi ca nghệ thuật Châu Á là tác phẩm Oriental Ceramic art: Illustrated by Examples from the Collection of W.T.Walters”(Nghệ thuật Gốm Phương Đông: Minh họa bằng các Ví dụ từ Bộ sưu tập của W.T.Walters). Tác giả, Stephen W.Bushell, một bác sĩ trong 25 năm ở tòa công sứ Anh ở Bắc Kinh, có hai lợi thế so với những học giả trước đó; là một nhà Hán học, ông có thể tiếp cận các tài liệu Trung Quốc nguyên bản và ông có lợi thế từ đã đến thăm các bộ sưu tập tư nhân Trung Quốc Henry Walters và Thế hệ Thứ hai của Các nhà sưu tập Mỹ Với vai trò là người sưu tập tiên phong đối với nghệ thuật Châu Á, William Walters thuộc vào nhóm những cá nhân như Charles Stewart Smith (1832-1900) và George Walker Vincent Smith (1833-1922) những người mà gia tài của họ cuối cùng đã trở thành các tổ chức công cộng ở New York, và Spring field, Massachusetts, và kể cả với Thomas E. Waggaman ở Washington, DC, người đã công nhận rằng ông đã được truyền cảm bởi bộ sưu tập của Walters và với Tướng Brayton Ives (1840-1914), cưu chủ tịch Sàn giao dịch Chứng khoán New York
- Ấn phẩmBiến đổi khí hậu và an toàn lương thực của thế giới: một cách đánh giá mới = Climate change and world food security: a new assessment(2010) Võ, Thị Thu[Nguời dịch]; Lê, Đức Minh[Người dịch]; Parry, MartinDựa trên nghiên cứu trước đây, những ước tính định lượng về tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) lên sản xuất lương thực toàn cầu được thực hiện dựa trên thử nghiệm kịch bản khí nhà kính trong trường hợp tổng thể HadCM2 và gần đây là HadCM3 của Trung tâm Hadley tại Anh Quốc (Hulme và cộng sự, 1999). Những hậu quả tác động lên giá lượng thực toàn cầu và và số lượng người có nguy cơ bị đói do tổ chức nông lương thế giới (FAO, 1988) đưa ra cũng được tính tới. BĐKH được dự đoán sẽ làm tăng sản lượng cây trồng ở các vùng vĩ độ cao và trung bình và giảm ở các vùng vĩ độ thấp hơn. Sự thay đổi này ngày càng trở nên rõ ràng. Hệ thống cung cấp lương thực có thể đáp ứng được những thay đổi theo vùng ở mức độ toàn cầu, với năng suất lương thực, giá cả và nguy cơ bị đói gần như không bị tác động dưới những tác động bổ sung của BĐKH. Đến những năm 2080, số người gia tăng vì nạn đói do tác động của BĐKH có thể lên tới 80 triệu người (±10 triệu người tùy thuộc vào kịch bản nào trong số 4 trường hợp của HadCM2 được sử dụng). Tuy nhiên, ở một số khu vực (đặc biệt vùng khô hạn và cận nhiệt đới) sẽ phải chịu những tác động rất bất lợi. Đặc biệt như châu Phi sẽ phải chịu sự sụt giảm lớn về năng suất, sản lượng cây trồng và tăng số người có nguy cơ bị đói do tác động của BĐKH. Châu lục này dự tính sẽ có thêm từ 55 đến 65 triệu người có nguy cơ bị đói tính đến những năm 2080 theo kịch bản BĐKH HadCM2. Còn theo kịch bản BĐKH HadCM3, tác động thậm chí còn nặng nề hơn, với ước tính có thêm hơn 70 triệu người phải đối mặt với nguy cơ bị đói ở châu Phi.
- Ấn phẩmBiến đổi khí hậu và đô thị hóa : Tác động và ý nghĩa đối với quản trị đô thị = Climate change and urbanization: effects and implications for urban governance(2011) Satterthwaite, DavidBài viết này dựa trên chương trình hợp tác về Khả năng và rào cản trong công tác thích ứng với biến đổi khí hậu tại các đô thị ở những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình có liên quan đến nhiều cá nhân và tổ chức. Cụ thể, bài báo có sự đóng góp và hợp tác của các tác giả như Saleemul Huq and HaReid (nhóm BĐKH của IIED), Mark Pelling (Kings College, Đại học London), Aromar Revi (TARU) and Patricia Lankao Romero (Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia, Mỹ). Nội dung của bài báo cũng dựa trên một số nghiên cứu của Debra Roberts (trường hợp nghiên cứu Chiến lược thích nghi của Durban), Jorgelina Hardoy và Gustavo Pandiella (Argentina), Cynthia B. Awuor, Victor A. Orindi và Andrew Adwerah (Mombasa), Mozaharul Alam (Bangladesh/Dhaka), Sheridan Bartlett (nghiên cứu về tác động của BĐKH đến trẻ em) và Sari Kovats. Bên cạnh đó, bài viết còn được viết dựa trên nội dung chủ yếu của 2 nghiên cứu trước đó: Lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu trong công tác ra quyết định ở cấp đô thị/địa phương tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình (dự thảo 1) (Satterthwaite, David 2007), được chuẩn bị cho Ủy ban hỗ trợ phát triển OECD; và Thích ứng với biến đổi khí hậu tại khu vực đô thị; Khả năng và rào cản tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình (Paris và Satterthwaite, David, Saleemul Huq, Mark Pelling, Hannah Reid và Patricia Lankao Romero 2007), báo cáo xuất bản bởi IIED.
- Ấn phẩmBối cảnh đất nước và công việc gia đình của vợ và chồng tại 34 quốc gia = National context and spouses' housework in 34 countries(2007) Knudsen, Knud; Wearness, KariBằng cách tập trung vào bối cảnh quốc gia và các nhân tố cá nhân ảnh hưởng đến sự đóng góp tương đối và tuyệt đối của người vợ và người chồng trong gia đình, các nhà khoa học đã có thể hiểu rõ hơn về sự bố trí và chia sẻ công việc nhà trong gia đình giữa các cặp vợ chồng. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra mối liên hệ giữa quyền hạn của người phụ nữ và sự chia sẻ công việc nội trợ trong gia đình. Tuy nhiên, những tác động được ghi lại thì lại chỉ ra điều hoàn toàn ngược lại. Các tác giả cho rằng mô hình xuyên quốc gia ít được công bố về những ảnh hưởng mang tính chất tương đối phản ánh sự thật là bối cảnh đất nước ảnh hưởng đến sự tham gia của cả vợ và chồng theo cùng một chiều hướng. Người ta cũng nói đến giả thuyết “discount” liên quan đến tác động qua lại đối với những nỗ lực mang tính tương đối và tác động không qua lại đến sự đóng góp của người vợ và người chồng vào công việc nội trợ trong gia đình. Hơn nữa, việc mở rộng mô hình tác động trong đó có cả tác động liên quan sự phát triển của nền kinh tế như là một biến số giải thích cho cấp độ phát triển kinh tế ở tầm vĩ mô thừa nhận sắc thái các khía cạnh mang tính chất bối cảnh của đất nước có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định làm việc nhà của người vợ và người chồng. Trong khuôn khổ mở rộng của việc trao quyền cho phụ nữ mà ban đầu nó còn rất yếu này, thì mối quan hệ tương đối liên quan đến sự phân chia lại là mạnh mẽ hơn. Dựa vào một phân tích đa cấp đối với các số liệu thu thập được gần đây tại 34 quốc gia trong khuôn khổ chương trình điều tra xã hội quốc tế (ISSP), bài báo này, xét trên một phương diện lớn hơn ở mức có thể tính cho đến thời điểm này, đã cùng lúc phân tích những đóng góp mang tính tuyệt đối và tương đối của người vợ và người chồng, đồng thời nó cũng điều tra những tác động qua lại giữa áp lực về nền kinh tế ở cấp độ vĩ mô và những yếu tố ở cấp độ cá nhân trong ảnh hưởng đến lao động nội trợ trong gia đình của các cặp vợ chồng.
- Ấn phẩmCác chiến lược thích ứng trước biến đổi khó lường của khí hậu = Strategies to adapt to an uncertain climate change(2009-05) Hallegatte, StephaneĐã đến lúc các quyết định liên quan đến dự án đầu tư dài hạn cần phải tính đến biến đổi khí hậu. Nhưng điều đó là không dễ dàng bởi ít nhất hai nguyên nhân. Thứ nhất, do tốc độ biến đổi khí hậu nhanh nên cơ sở hạ tầng mới xây dựng sẽ phải có khả năng đương đầu với phổ rộng hơn các điệu kiện khí hậu, và điều này sẽ làm cho việc thiết kế khó khăn hơn và chi phí xây dựng cũng tốn kém hơn. Thứ hai, do sự bất thường của khí hậu trong tương lai cho nên không thể trực tiếp sử dụng đầu ra của một mô hình khí hậu đơn lẻ như là cơ sở cho việc thiết kế cơ sở hạ tầng, và cũng không thể trông đợi sẽ có ngay những thông tin khí hậu cần thiết. Thay vì tối ưu hóa dựa trên các điều kiện khí hậu dự báo của các mô hình, cơ sở hạ tầng trong tương lai cần được xây dựng vững chãi hơn để đối mặt với những thay đổi của khí hậu. Mục tiêu này hàm ý rằng người sử dụng những thông tin liên quan đến khí hậu cũng phải thay đổi những hành động của họ và các khung ra quyết định, chẳng hạn như bằng cách thích ứng các phương pháp quản lý bất trắc mà họ đang áp dụng đối với tỷ giá hối đoái. Năm phương pháp được thử nghiệm đó là: (1) lựa chọn những chiến lược “không hối tiếc” mà có thể sẽ mang lại lợi ích thậm chí ngay cả khi không có biến đổi khí hậu, (2) ủng hộ những giải pháp có tính linh hoạt, (3) đầu tư các “bờ an toàn” cho các công trình phát triển mới, (4) khuyến khích những chiến lược ứng phó mềm, (5) giảm thời gian ra quyết định. Thêm vào đó, cần phải giám sát cả những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực và xem xét khả năng mở rộng của các giải pháp thích ứng. Tương tác thích ứng giảm nhẹ cũng đòi hỏi thiết kế và đánh giá tổng hợp cho các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ mà thường phát triển bởi các cộng đồng riêng biệt.
- Ấn phẩmCác nhà nhân học chỉ cần ứng dụng: Các thách thức của nhân học ứng dụng(2007) TS. Nguyễn, Xuân Thơm [ Người dịch]; Sillitoe, PaulViệc ứng dụng nhân học đang ngày càng thu hút sự chú ý khi một thời việc này được coi là một việc đáng ngờ. Sự nổi lên của nhân học ứng dụng phản ánh sự lan toả rộng rãi của ngành học này khi người ta tìm kiếm sự ứng dụng trong một loạt các ứng dụng. Trong bài báo này tôi đưa ra ý kiến vềmột số vấn đề đang được tranh cãi mà tôi đã gặp phải trong khi cố gắng đối đầu với thách thức của ứng dụng nhân học trong bối cảnh “kiến thức của người trong nghề” về các vấn đề phát triển, các vấn đề đòi hỏi phải quan tâm chú ý để đẩy công việc lên phía trước. Một tổng luận ngắn gọn về lịch sử cho thấy việc không đề cập các vấn đề này đã ngăn cản các nỗ lực nhằm thiết lập ngành nhân học ứng dụng trước đây. Các vấn đề này bao gồm việc định nghĩa chủ đề mà chúng ta cần ứng dụng, những ứng dụng mang tính liên ngành cho các khoa học xã hội và vấn đề về chuyên môn sâu. Các xem xét khác liên quan đến việc tạo cho các phương pháp nhân học một góc cạnh ứng dụng bao gồm, ví dụ như, các đòi hỏi mang tính thách thúc của các nghiên cứu đi kèm. Tôi lược giản ra đây năm phương pháp để quan sát nhân học ứng dụng: Khai thác bí quyết công nghệ của những khoa học khác; sử dụng kiến thức nội bộ môn để thúc đẩy sự phát triển; Chuyển giao việc nghiên cứu và ứng dụng qua các nền văn hoá; Tìm cách đẩy mạnh việc sử dụng tri thức cho mục đích thị trường; và cuối cùng tạo ra sự phê phán mang tính cấp tiến về quá trình phát triển. Tất cả các vấn đề này đếu là những thách thức đối với chúng ta. Và chúng chỉ ra thời đại thú vị cho nhân học.
- Ấn phẩmCác tầm nhìn cần kiểm chứng về dân chủ Mỹ: quyền công dân, nhà ở công cộng và sân chơi quốc tế = Contested Visions of American Democracy: Citizenship, Public Housing, and the International Arena(2010) E. Argersinger, Jo AnnBài viết này xem xét lại lịch sử của nhà ở công cộng và cuộc tranh luận nó tạo ra từ Đại khủng hoảng cho tới Chiến tranh Lạnh. Bằng cách viết lại lịch sử đó trên sân chơi toàn cầu, nó chứng minh rằng cuộc thảo luận về nhà ở công cộng đối nghịch với nhà ở sở hữu cũng đồng thời là một cuộc tranh luận về ý nghĩa của quyền công dân và dân chủ Mỹ. Thông qua việc kiểm tra các xung đột quốc gia và bỏ qua các xung đột địa phương, bài viết này chỉ ra sâu hơn rằng cuộc chiến về nhà ở công cộng có ý nghĩa và bất ổn định hơn nhiều so với quan điểm truyền thống. Cả các nhà phê bình lẫn người ủng hộ nhà ở công cộng đều đã rút ra (kết luận) từ các kinh nghiệm quốc tế và giả định trong việc coi nhà ở công cộng là một nhân tố cấu thành của quyền công dân ở nền dân chủ Mỹ. Những lo ngại về chủ nghĩa Bôn-sê-vic, chủ nghĩa Phát xít, và chủ nghĩa cộng sản đã từng giúp quốc tế hóa những vấn đề về chủng tộc, không gian, nhà ở và cùng nhau hình thành nên quyết định về việc liệu một mái ấm tử tế là quyền lợi hay ưu đãi của người Mỹ.
- Ấn phẩmCách tiếp cận từ dưới lên về chính sách biến đổi địa phương và vùng = From the bottom up local and subnational climate change politics(2008-12) Schreurs, Miranda A.Bài viết này giới thiệ u một vấn đề đặc biệt liên quan đến các chính sách biến đổi khí hậu toàn cầu, vùng trong phạm vi quốc gia (trong trường hợp của Liên minh châu Âu là trong hoặc ngoài quốc gia). Trong khi nh ậ n biết những hạn chế mà các chính quyền địa phương phải đối mặt, bài viết cũng thảo luận về tầm quan trọng của việc tập trung sự chú ý đến các chính sách và chương trình khí hậu của chính quyền cấp tỉnh, thủ đô và chính quyề n các địa phương nơi mà các chính sách và chương trình về biến đổi khí hậu được thực thi. Bốn trường h ợp được nghiên cứu điển hình, bao gồm: California trong phạm vi nước Mỹ, CHLB Đức trong phạm vi Liên minh châu Âu, tỉnh và thủ đô (Tokyo và Kyoto) trong phạm vi nước Nhật, tỉnh và huyện trong phạm vi Trung Quốc.
- Ấn phẩmCái hợp lý và tình cảm hai chiều trong khoa học xã hội(1998-02) Bùi, Thế Cường [Người dịch]; Neil J., SmelserÝ tưởng “cái hợp lý” (the rational) chiếm vị trí nổi bật trong lịch sử triết học. Trong truyền thống này, nó liên quan mật thiết với lý trí (reason), một năng lực tinh thần nhờ nó con người có khả năng suy nghĩ một cách logic, phản tư (reflect) trên cơ sở những lập luận đúng đắn để hành xử, và phát hiện ra một đời sống hợp lý – cái đời sống hợp lý này đến lượt nó lại kết nối với một đời sống đức hạnh. Ý tưởng về lý tính vừa là điểm ngoặt (turning point) vừa là đỉnh điểm của thời đại lý tính (Age of Reason) ở nước Pháp thế kỷ XVIII, khi nó nhấn mạnh vào khả năng loài người có thể chế ra được một xã hội hợp lý, trật tự, thoát khỏi hiện trạng câu thúc bởi tôn giáo, chế độ quý tộc và cổ truyền (Taine 1881. Tocqueville 1856).
- Ấn phẩmChẩn đoán thai sớm ở Việt Nam thời kì sau 1975: Quyền lực, tính chủ thể và quyền công dân(2007) Gammeltoft, Tine M.Trên thế giới, khám thai định kì bao gồm siêu âm hình ảnh bào thai và các kĩ thuật chẩn đoán thai sớm khác. Tuy có sự phát triển toàn cầu này, hầu như chưa nghiên cứu nhân học nào tìm hiểu xem những kĩ thuật mới này đã triển khai ở các nước ngoài Âu Mỹ như thế nào. Trong bài báo này, tôi nghiên cứu xem những phụ nữ mang thai ở thủ đô Hà Nội, Việt Nam làm thế nào để có được những chọn lựa đầy khó khăn khi kết quả siêu âm cho thấy họ đang mang thai bị dị tật và quyết định phải giữ hay chấm dứt thai kì. Trong khi nghiên cứu ở Bắc Mỹ với bối cảnh xã hội tự do cao và nhấn mạnh chủ nghĩa cá nhân, người ta coi vấn đề chẩn đoán thai sớm là “sự chủ động về đạo đức” của cá nhân, tôi lại chỉ ra cách mà phụ nữ Việt Nam chuyển vấn đề phải chọn lựa của mình sang vấn đề chung của tập thể, dòng họ, các liên hệ xã hội và chia sẻ trách nhiệm. Điểm mấu chốt quan trọng là,để hiểu biết toàn diện về hành vi và mục đích sinh sản của phụ nữ, cần cân nhắc đến các yếu tố địa phương như quyền lực, tính chủ thể, và quyền công dân.
- Ấn phẩmChế độ tái tạo đô thị ở Trung Quốc: Một nghiên cứu tình huống về tái phát triển đô thị ở khu vực Taipingqiao của Thượng Hải = An urban regeneration regime in China: a case study of urban redevelopment in Shanghai’s Taipingqiao area(2007-08) You-Ren, Yang; Chih-hui, ChangBài báo này tìm hiểu các dự án tái phát triển đô thị Taipingqiao ở Thượng Hải, những dự án đã bảo tồn dạng kiến trúc “Shikumen” với mục tiêu khai thác những động lực đằng sau tái cấu trúc không gian của Thượng hải và nhằm làm sáng tỏ những cơ chế mới của hợp tác công cộng- tư đang diễn ra ở Trung Quốc. Một mô hình được gọi là “chế độ tìm kiếm chênh lệch tiền thuê nhà” (RGSR) được đưa ra nhằm giải thích những cơ chế đằng sau sự tái phát triển của đô thị Trung Quốc. Người ta tìm ra rằng logic của tích lũy tư bản đã thống trị việc tái định dạng những kiểu không gian của Shikumen và đã được chuyển thành những giá trị bất động sản tiêu biểu. Người ta lập luận rằng một liên minh ủng hộ tăng trưởng giữa chính quyền quận và tư bản nước ngoài đã nổi lên trong suốt quá trình tái cơ cấu này; tài liệu này phân tích những đặc điểm của cách thức liên minh này thực hiện sức mạnh của nó. Cuối cùng, dựa trên nghiên cứu tiên nghiệm, tài liệu này gắn liền việc phân tích chế độ của Phương tây vào một bối cảnh lý thuyết.
- Ấn phẩmChia sẻ tri thức, khác biệt và làm việc trong một đội = Sharing knowledge, being different and working as a team(2009) Rosendaal, BastiaanTrong các tổ chức quốc tế, những công việc có tính trí tuệ cao hầu hết được tổ chức theo các đội và nhóm. Hầu hết những công việc này đều có thể được được xếp loại “tạo ra tri thức” với đầu ra là các kế hoạch, hợp đồng, bản đệ trình hay phân tích. Hợp tác nhằm thực hiện công việc có tính tri thức (knowledge-intensive work) được coi là một quá trình xã hội trong đó môi trường tổ chức và sự tương đồng (identification) đóng một vai trò quan trọng. Mặc dù các thành viên phụ thuộc lẫn nhau, những mối liên hệ của họ trong đội không nhất thiết phải gắn chặt với nhau. Những đội trong các công ty đa quốc gia bao gồm những thành viên có quốc tịch, dân tộc, nền giáo dục khác nhau và thực hiện chức năng khác nhau; họ thường ở các địa điểm khác nhau, sử dụng các phương tiện khác nhau để giao tiếp. Đây không phải là những điều kiện tối ưu để trao đổi tri thức và quan điểm một cách dễ dàng. Mặt khác, sự đa dạng về chuyên môn dường như là điều kiện cần thiết nhằm tạo ra tri thức. Nó đảm bảo yêu cầu cần thiết nhằm xử lý những vấn đề phức tạp, và khác biệt về nhận thức khuyến khích học tập trong tổ chức. Người ta chờ đợi rằng sự tương đồng của các thành viên trong nhóm với nhóm của mình có thể làm đối trọng với những tác động tiêu cực của sự đa dạng; mặt khác có thể thúc đẩy tác động tích cực của việc phụ thuộc lẫn nhau trong nhiệm vụ. Nghiên cứu này hướng tới những mối quan hệ giữa tương đồng xã hội (social identification), sự đa dạng, sự phụ thuộc lẫn nhau và chia sẻ tri thức trong các đội trong công ty. Tương đồng xã hội được coi là nhân tố trung gian quan trọng do nó xây dựng hành vi thực hiện nhiều hơn nhiệm vụ (extra-role behavior) trong một tổ chức. Sự đa dạng và phụ thuộc lẫn nhau là các đặc điểm của đội làm hình thành sự tương đồng trong đội. Tương đồng xã hội được coi là trung gian quan trọng giữa những biến độc lập này với chia sẻ tri thức- với vai trò biến phụ thuộc. Nghiên cứu được thực hiện tại một công ty giải khát lớn có các nhà máy và đại lý trên khắp thế giới. Một bảng trắc nghiệm đã được sử dụng trên một quy mô được công nhận là hợp lý. Số liệu nghiên cứu bắt nguồn từ một mẫu gồm 169 người trả lời đến từ 30 nhóm. Mối quan hệ mạnh mẽ giữa chia sẻ tri thức và tương đồng xã hội đã được tìm ra, trong khi sự đa dạng của các đội đóng vai trò thú vị trong việc khuyến khích và hạn chế chia sẻ tri thức giữa các thành viên trong nhóm
- Ấn phẩmChiến tranh lạnh, nghệ thuật “nóng”(2008) D. Katz, JonathanTựa đề cuộc triển lãm bằng tiếng Anh sử dụng lối chơi chữ một cách nhẹ nhàng “Be-Bomb: The Transatlatic War of Images and all that Jazz” (“Be-Bomb”: Cuộc chiến xuyên Đại Tây Dương của các hình ảnh và những thứ tương tự”) tương phản mạnh mẽ tựa đề của triển lãm này bằng tiếng Tây Ba Nha có nghĩa là “Under the Bomb” (Dưới làn bom). Tôi thấy tựa đề sau phù hợp hơn, ít ra là vì cách thức nó phản đối đường lối chính trị Chiến tranh lạnh được đưa thành khẩu hiệu “duck and cover” nhằm ngụy trang cho một thực tế sâu sắc hơn, đáng sợ hơn, kinh tế chính trị hơn, mà chúng ta không muốn nhắc tới.(1) Quy mô triển lãm là rất lớn: 200 bức tranh, 108 bức ảnh, 95 bức vẽ trên giấy, 50 phim và 200 tư liệu lịch sử, trải dài suốt 2 tầng nhà màu trắng lạnh lẽo thuộc thiết kế của Richard Meier. Triển lãm này là những âm điệu không ăn khớp của những tư tưởng giúp gợi lên những cảm hứng tràn đầy trong các thời khắc lịch sử với những kết cục vẫn chưa rõ ràng, một khoảnh khắc bị bao phủ bởi mối lo ngại vũ khí hạt nhân sẽ thiêu đốt tất cả các cảm hứng thành tro bụi. Cụ thể, triển lãm đã đặt mỹ thuật méo mó và những cuộc chiến chính trị vào cùng một bối cảnh thời hậu chiến- do chúng thường trùng hợp với nhau- đối với những xu hướng nghệ thuật trong một thế giới đang được tổ chức lại nhanh chóng. Ngoại trừ một phần nhỏ của triển lãm được dành cho nghệ thuật và chính trị của Tây Ba Nha dưới thời kỳ độc tài phát xít của Francisco Franco, “Be-Bomb” tập trung chủ yếu vào văn hóa Pháp, nền văn hóa ưu việt của Châu Âu trong suốt thời kỳ đó. Triển lãm này chủ yếu phác họa cuộc cạnh tranh giữa hai siêu cường văn hóa của thời đại, vạch ra một cách tỉ mỉ sự đối nghịch nghệ thuật Pháp- Mỹ trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Dưới góc nhìn của Mỹ, cuộc triển lãm hoàn toàn đối nghịch với kỳ vọng nhằm đánh giá những tác động lịch sử của một vấn đề nằm ngoài sự thống trị của Mỹ, như thể chiến thắng về văn hóa cuối cùng của người Mỹ có vẻ không được nghĩ đến, hoặc không chắc chắn theo một cách nào đó.
- Ấn phẩmChính sách tôn giáo mới ở Trung Quốc: Theo kịp những cải cách toàn diện = The new religious policy in China: Catching up with system peforms(2010-09) Nguyễn, Thúy Nga [Người dịch]; W. Tong, JamesChính sách tôn giáo mới của Trung Quốc mở rộng quyền tự trị về mặt tổ chức của các tổ chức tôn giáo, hạn chế quyền của các ủy ban về các vấn đề tôn giáo, và giải quyết yêu cầu hành chính, thách thức pháp lý, và việc bổ nhiệm sai những ủy viên tài phán của giáo hội. Do đó, đây là một nỗ lực của chính phủ Trung Quốc nhằm hòa nhập chính sách tôn giáo với những cải cách toàn diện về kinh tế xã hội và chính trị.
- Ấn phẩmChu trình Cacbon trong đất rừng dưới tác động của nồng độ CO2 tăng cao – một nguồn bổ sung thêm?(2009) Lukac, MartinĐất rừng đóng vai trò như một bồn chứa cacbon khổng lồ trong hệ sinh thái lục địa. Ngày nay, nồng độ CO2 tăng lên trong không khí có vẻ như đang làm lượng C đi vào đất tăng thêm thông qua sự tăng lên của sinh khối rừng bên trên hay dưới mặt đất. Lượng bổ sung này tạo ra sự tăng thêm lượng C lưu trữ trong bồn chứa. Trong bài viết này chúng tôi so sánh những quan sát hiện tại từ bốn thực nghiệm ―làm giàu CO2 trong không khí quy mô lớn (FACE) ở các hệ sinh thái rừng (EuroFACE, Aspen-FACE, Duke FACE và ORNL-FACE) và xem xét khả năng dự báo dài hạn của các mô hình này đối với sự tích lũy C trong đất. Tại tất cả các mô hình,xử lý xông CO2 làm tăng sinh khối của hệ rễ, và sự tăng lên này dẫn đến sự tăng thêm về hàm lượng C bổ sung cho đất. Tuy nhiên, ở tất cả mô hình nồng độ khí CO2 trong đất vượt quá so với lượng C bổ sung vào đất qua sinh khối của hệ rễ. Tính toán về cân bằng khối cho thấy một lượng lớn CO2 trong đất có thể sinh ra do sự hô hấp của hệ rễ. Do sự phức tạp của các quá trình liên quan nên việc dự báo dựa trên so sánh giữa những thực nghiệm này với một chu trình sống của rừng là không đơn giản để có thể khẳng định: liệu sự tăng lên của CO2trong không khí có dẫn đến sự gia tăng tích lũy C trong đất hay không?
- Ấn phẩmCó phải hiện đại hóa Đức Chúa” trong tín ngưỡng Vodou của Haiti? Những nhận xét về Đức Chúa Olowoum và phong trào tái châu Phi hóa ở Haiti = “Modernizing God” in Haitian Vodou.(2008) Nguyễn, Thị Hiền [Người dịch]; Thylefors, MarkelBài viết này khám phá những quá trình thay đổi của tôn giáo trong tín ngưỡng Vodou của Haiti từ quan điểm “tái châu Phi hóa” và “phi hỗn dung”. Bài viết giới thiệu Olowoum như là Đức Chúa của tín ngưỡng Vodou, thay thế Chúa Bondye của Thiên chúa giáo. Đưa những yếu tố mới, như Đức Chúa Olowoum vào trong tín ngưỡng Vodou dường như chứa đầy sự hơi đối lập trong quan điểm của người thực hành tín ngưỡng này. Cũng như vậy không thể nói được về những nỗ lực loại bỏ những yếu tố tôn giáo (những vị thánh Công giáo) khỏi tín ngưỡng Vodou. Tái châu Phi hóa và phi hỗn dung được hiểu một cách tốt nhất như là những thể hiện đương đại của truyền thống lâu đời tiếp thu tôn giáo của Vodou.
- Ấn phẩmCộng đồng, xã hội, văn hóa: Ba chìa khóa để hiểu về các bản sắc xung đột hôm nay = “Community, society, culture: three keys to understanding today’s c onflicted identities”(2009) Nguyễn, Văn Sửu [Người dịch]; Godelier, MauriceTác giả định nghĩa lại ba khái niệm quan trọng được sử dụng trong các ngành khoa học xã hội: bộ lạc, xã hội và cộng đồng. Tác giả bắt đầu bằng các phát hiện của mình cho rằng người Baruya, một bộ tộc ở New Guinea, nơi tác giả đã sống và làm việc, không phải là một hội trong vài thế kỷ trước đó. Điều này làm cho tác giả phân vân: Một xã hội mới được tạo nên như thế nào? Tác giả cho thấy rằng chỉ riêng các quan hệ thân tộc hay các quan hệkinh tế không đủ để tạo nên một xã hội mới. Điều cố kết một số lượng nhất định các nhóm thân tộc của người Baruya thành một xã hội chính là các mối quan hệ chính trị và tôn giáo của họ, các mối quan hệ đã tạo điều kiện cho họ hình thành một hình thái chủ quyền đối với lãnh thổ, với dân cư và với các nguồn lực. Tác giả sau đó so sánh với các ví dụ khác về các xã hội ít nhiều mới được hình thành, trong số đó có Saudi Arabia, một xã hội mới bắt đầu vào cuối thế kỷ 18. Tác giả cũng làm rõ những khác biệt giữa bộ tộc, xã hội, nhóm tộc người và cộng đồng và cho thấy một bộ tộc là một xã hội, nhưng một nhóm tộc người lại là một cộng đồng. Các phân tích của tác giả đã làm sáng tỏ một số tình hình đương đại, vì các bộ tộc hiện vẫn còn đóng một vai trò quan trọng ở Iraq, Afghanistan, Jordan và một số nước khác.
- Ấn phẩmCuộc chuyển đổi duy danh trong xây dựng lập lý thuyết về quyền lực = The nominalist turn in theorizing power(2010) Đoàn, Thị Tuyến [Người dịch]; Alasuutari, PerttiQuyền lực là một khái niệm chủ yếu trong nghiên cứu văn hóa. Ví dụ, các qui tắc của Association for Cultural Studies [Hiệp hội nghiên cứu văn hóa], một tổ chức hướng đến thiết lập và thúc đẩy một cộng đồng nghiên cứu văn hóa toàn thế giới, phát biểu rằng: Tương tự, ‘Mục tiêu và ý định’ của Tập san European Journal of Cultural Studies [Tập san nghiên cứu văn hóa Châu Âu] đã phát biểu rằng Tập san sẽ ‘tham gia vào các thảo luận có tính phê bình về các tương quan quyền lực liên quan tới phạm vi giới tính, giai cấp, tình dục, tộc người và các điểm vi mô và vĩ mô của xung đột chính trị’. Tuy nhiên, quyền lực là gì? Thật khó mà định nghĩa được; nó cũng chủ yếu giống như khái niệm là dành cho nghiên cứu văn hóa và các ngành khoa học xã hội nói chung. Cho nên trong nhiều tình huống nó bị bỏ ngỏ không được định nghĩa, mặc định rằng thính giả đã biết nó nghĩa là gì. Như được nhắc tới trong lời mời viết bài cho hội thảo quốc tế mang tên ‘Power: Forms, Dynamics and Consequences’ [Quyền lực: các dạng thức, động lực học và hệ quả] tổ chức 9/2008 ở Tampere, Phần lan, một bài phát biểu then chốt định hình phần cơ bản của chủ đề đặc biệt này: đối với các nhà khoa học xã hội quyền lực, ở những chừng mực khác nhau, giống như những gì thánh Augustine đã nói về thời gian: nó là trọng tâm các nghiên cứu của chúng ta và chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết nó là gì nhưng lại rất khó để giải nghĩa.’ Trong các nghiên cứu văn hóa, Michel Foucault có lẽ đã trở thành nhân vật quan trọng nhất tác động đến tưởng tượng của chúng ta về quyền lực. Ông đã thực sự thách thức giả định thông thường phổ biến mà quyền lực vận hành bằng cách đặt ra các giới hạn cho những khát vọng và ham muốn của chúng ta. Ví dụ, trong vấn đề tình dục ông chỉ ra rằng mạng lưới quyền lực xung quanh nó đã làm cho các chủ thể con người ‘trong phần thế giới của chúng ta’ mong mỏi khao khát sự phơi bày về tình dục, thừa nhận nó để giải phóng khỏi những kiêng kị trước đây, và thật vậy duy trì chế độ quyền lực – hiểu biết – khoái cảm mà thấm nhuần và điều khiển bản năng giới tính hàng ngày (Foucault, 1980[1978]). Mặc dù đã hơn ba thập kỷ trôi qua kể từ khi xuất hiện các nguyên bản có ảnh hưởng lớn về quyền lực của Foulcault, Ông tiếp tục gây ngạc nhiên với các nhà nghiên cứu suy ngẫm về quyền lực và trao quyền. Trên thực tế, các công trình của Foucault vẫn là thảo luận hợp thời về chủ nghĩa tự do mới. Sự xuất bản gần đây của những bài giảng của ông trong College de France (Foucault, 2003a, 2003b, 2005, 2006, 2007, 2008) đã tạo nên một sự phục hồi đáng chú ý với các công trình của ông về quyền lực và sự cai trị, một khối trọn vẹn của sự uyên bác, được biết đến như là các nghiên cứu liên quan tới quyền lực (e.g. Burchell et al., 1991; Dean, 1999, 2002; Dean and Hindess, 1998; Inda, 2005; Rose, 1996, 1999). Bất chấp sự uyên bác hứa hẹn về quyền lực và sự cai trị, những vấn đề liên quan tới cách hiểu về những gì mà chúng ta ám chỉ là quyền lực vẫn chưa có vẻ gì được giải quyết – ít nhất là không ở trong lề lối được các học giả liên quan thừa nhận rộng rãi. Những cuộc tranh luận như thế – đặc biệt khi được kết nối với nghiên cứu về các dạng thức của quyền lực và sự cai trị – tất nhiên là có lợi và tạo cảm hứng. Hệ quả là những năm gần đây đã chứng kiến một mối quan tâm ngày càng tăng đối với thảo luận quyền lực là gì và nó hoạt động như thế nào. Ví dụ, một tập san mới, Journal of Power [Tạp chí về quyền lực], đã được ra đời vào năm 2008. Cuộc hội thảo về quyền lực diễn ra năm 2008, mà được dự định tổ chức hai năm một lần. là một ví dụ khác. Sự chú ý được mở rộng dành ưu tiên cho chủ đề quyền lực có lẽ xuất phát từ những cơ chế mới về quyền lực và sự cai trị, trong đó liên tục thách thức những cách hiểu cũ về các mối quan hệ quyền lực. Một cập nhật trong cách hiểu của chúng ta về quyền lực là cần thiết; tuy nhiên, như Mitchell Dean nhấn mạnh trong bài viết của ông về chủ đề này, chúng ta cần tham gia tạo nên các khái niệm mà thỏa mãn được trải nghiệm hiện tại và những gì mới lạ hoặc khác biệt ở trải nghiệm đó, và không cần tuyên bố là phổ biến hay phổ quát. Rút cuộc, những khái niệm và trải nghiệm như vậy có thể thúc đẩy các lý thuyết của chúng ta về quyền lực. Những bài viết trong số báo đặc biệt này được gắn với công việc ấy. Suy ra từ những lý thuyết về quyền lực đang tồn tại cũng như các dữ liệu dựa trên kinh nghiệm và trải nghiệm sống về cơ chế hiện tại của nó, chúng có đóng góp đáng kể tới việc hiểu các mối quan hệ quyền lực. Dựa trên những bài viết và những xu hướng khác trong việc nghiên cứu và tạo ra các lý thuyết quyền lực tôi biện luận rằng, tiếp theo gợi ý của Foucault để là duy danh (nominalistic) liên quan đến quyền lực, chúng ta đang chứng kiến một chiều hướng duy danh. Một lập luận như thế không được tuyệt đối đưa ra trong bất kỳ bài viết nào ở số ra đặc biệt này. Tuy nhiên, cách giải thích này – sẽ được nói chi tiết trong những phần tiếp theo bên dưới – là phù hợp với những luận điểm mà các tác giả đã nêu.
- Ấn phẩmĐằng sau sự đối chọi tự nhiên-văn hóa: Biến thể văn hóa như một đặc tính tiến hóa = Beyond nature versus culture: cultural variation as an evolved characteristic(2009) Nguyễn, Văn Sửu [Người dịch]; Nettle, DanielCó một sự phân chia giữa các giải thích tiến hóa luận và những lý giải mang tính văn hóa và xã hội đối với hành vi ứng xử. Trong bài viết này, tôi cố gắng bác bỏ sự phân chia này bằng cách chỉ ra rằng các thể sống cá thể sinh vật (organisms) còn là sự nghi vấn đối với ảnh hưởng văn hóa và xã hội, vì chúng có các cơ chế liên quan làm cho chúng như thế. Tôi xem xét hai lớp lý giải tiến hóa luận về biến thể văn hóa, văn hóa “gợi” và văn hóa “chuyển” ('evoked and 'transmitted culture) và lập luận rằng hai lớp cơ chế này tăng cường và củng cố các lý giải khoa học hiện có cũng như đưa ra các tiên đoán mới.Tôi đề nghị một cấp độ cao về tính phù hợp và cùng có lợi cho cả hai ngành khoa học xã hội và tự nhiên.
- Ấn phẩmĐất đai, lao động và chuyển đổi đất nông nghiệp ở Việt Nam = Land, labour and agrarian transition in Vietnam(2010) Đoàn, Thị Tuyến [Người dịch]; Haroon, Akaram-LodhiMartin Ravallion và Dominique van de Walle lập luận rằng việc gia tăng tình trạng không có ruộng đất ở Việt nam là một hàm số con người (a function of people) lợi dụng sự quay trở lại cao hơn đối với giáo dục được chứng thực ở lao động hưởng lương khi so sánh với việc làm nông. Do đó,việc gia tăng tình trạng không có ruộng đất là một tín hiệu thành công về mặt kinh tế. Bài phê bình này cho rằng Ravallion và van de Walle đã hiểu sai tình trạng không có ruộng đất, giải thích chưa chính xác các số liệu liên quan và làm giảm tầm quan trọng của những thúc ép đang mặt đối mặt với người dân nông thôn Việt Nam. Bằng cách làm như vậy, họ không nắm bắt được những thực tế phức tạp của chuyển đổi đất nông nghiệp ở Việt Nam.
- Ấn phẩmĐem con người trở lại(2008-08) Bùi, Thế Cuờng [Người dịch]; Homans, George C.Đầu thập niên 1930, đã hình thành một trường phái tư tưởng xã hội học. Cha đẻ của nó, mặc dù họ không phải chỉ sản sinh ra nó, là Durkheim và Rad-Cliffe Brown. Tôi gọi đây là một trường phái, mặc dù không phải tất cả mọi người theo trường phái này đều chấp nhận cùng những nguyên lý của nó; và nhiều nhà xã hội học đã đi tiếp và có những tiến bộ lớn mà không hề có một tư tưởng nào gắn với nó. Trường phái này thường được gọi là trường phái chức năng luận cấu trúc, hay nói một cách ngắn gọn, chức năng luận. Đối với cả một thế hệ, nó đã là một trường phái thống trị, do đó là trường phái tư tưởng xã hội học riêng biệt duy nhất. Tôi nghĩ nó đã đi hết con đường của mình, đã hoàn thành sự nghiệp của mình, đem lại cho ta cái cách để hiểu các hiện tượng xã hội. Và tôi tự hỏi “Tại sao?”
- Ấn phẩmĐịa bàn nghiên cứu như một mạng lưới: Chiến lược định vị nghiên cứu dân tộc học = ‘The field site as a network: A strategy for locating ethnographic research”(2009) TS. Nguyễn, Thị Phương Châm [Người dịch]; Burrell, JennaQua công việc xây dựng địa bàn nghiên cứu,những nhà nghiên cứu định rõ chủ thể và khách thể trong nghiên cứu của họ. Bài viết này tìm hiểu những chiến lược đa dạng mà các nhà nghiên cứu tìm ra để sắp đặt nghiên cứu xã hội của họ trên một vùng địa lý và không gian nhất định. Địa bàn nghiên cứu mang tính mạng lưới thực sự có được giữa những cách tiếp cận hiện tại mà những cách tiếp cận đó thách thức suy nghĩ thông thường về những nghiên cứu dựa trên thực địa. Với lợi ích và kết quả của một cấu hình riêng biệt,địa bàn nghiên cứu giống như một mạng lưới trong đó có sự kết hợp của vật chất, thực tế và sự hình dung về không gian, tất cả sẽ được trình bày chi tiết qua một nghiên cứu trường hợp. Tác giả dành sự tập trung đặc biệt đến những vấn đề bếp núc hậu cần phức tạp và những bước đi trên thực tế để xây dựng một địa bàn nghiên cứu đúng nghĩa. Bài viết này cũng bao gồm những gợi ý về cách nghiên cứu những hiện tượng xã hội xảy ra trên địa bàn rộng từ một vị trí tĩnh tại.
- 1 (current)
- 2
- 3
- 4
- 5