HCMUS - Bài trích (Article)
Duyệt HCMUS - Bài trích (Article) theo Năm xuất bản
- Ấn phẩmOPTIMIZATION OF FERMENTATION MEDIUM FOR SPORE PRODUCTION OF Paenibacillus polymyxa IN937a AND ITS ANTIFUNGAL ACTIVITY(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 01-2022) Pham, Trung Hieu; Tran, Dai Lam; Le, The Tam; Vu, Thi Thoa; Nguyen, Thi Phuong Thao; Ho, Tu Cuong; Vu, Dinh Hoang; Le, Dang QuangIn this study, we optimized the fermentation medium for spore production of Paenibacillus polymyxa IN937a. Seven factors including molasses, glucose, magnesium sulfate, potassium pyrophosphate, yeast extract, zinc sulfate, and ammonium sulfate are selected as the basis for the screening of factors affecting the spore production of P. polymyxa IN937a by the Plackett-Burman experiment. Based on the analysis of the Plackett-Burman matrix, the result showed that yeast extract, molasses, and ammonium sulfate were the three main impact factors (P < 0.05), which affected the yield of P. polymyxa IN937a spores. Then, the optimum combination of the three factors was subsequently optimized by the response surface methodology (RSM) using Box-Behnken design to increase the spore production in P. polymyxa IN937a fermentation. The obtained results by RSM predicted that maximum spore density of P. polymyxa IN937a was 6.606×109 spore/mL after 48 hours of the experiment when the appropriate medium for the spore production of P. polymyxa IN937a included yeast extract 14.44 g/L, molasses 19.14 g/L, and ammonium sulfate 0.20 g/L. In addition, the antifungal activity of P. polymyxa IN937a was also tested in this study. The preliminary results of in vitro antifungal activity indicated that P. polymyxa IN937a had a good inhibition on the growth of two phytopathogenic fungal strains Sclerotium rolfsii and Rhizoctonia solani. These results could be used for further research on the fermentation of P. polymyxa IN937a on a pilot scale to obtain the optimal number of spores for use in the development of biological crop protection products.
- Ấn phẩmANTIMICROBIAL POTENTIAL OF STREPTOMYCES ISOLATES FROM CON DAO NATIONAL FOREST(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 01-2022) Le, Pham Nguyet Thuong; Truong, Hoa Thien; Tong, Thi HangStreptomyces are considered the most potential microbes with the ability to produce antimicrobial and anticancer agents. These bacteria are found mostly in soil across the globe and play a pivotal role in material recycling processes. Isolation of Streptomyces in Vietnam has been conducted for years. However, there are few investigations on protected regions which have very little exchanging activities. This project aims to explore the resource for antimicrobial activity of Streptomyces isolated from Con Son Island (Con Dao). Eighteen soil samples were collected in different surface lands in Con Dao and cleaned prior to culturing and isolation. Twenty-five isolates (named from C1 to C25) were obtained from ISP4 agar plates and stored in glycerol 30% at -80oC. Liquid cultures were established in 3 different media (ISP4, Gause I and TSB) for all isolates. Broth collected from cultures at stationary phase was extracted with ethyl acetate at the ratio 1:1 (v/v) followed with antimicrobial tests against three bacterial and two fungal microorganisms (S. aureus, B. subtilis, E. coli, C. albicans, A. parasiticus). Sixty percent of isolates show activity against at least one microbe. The isolates C13, C22 and C24 showed the ability to inhibit both bacteria and fungi tested. Results from C13 and C22 express remarkable activity to prevent the growth of B. subtilis and C. albicans, respectively. This study suggests the potential of Streptomyces from the investigated area and recommends more optimization of the culture condition as well as extractions with other solvents to get better antimicrobial activities.
- Ấn phẩmGROWTH ASSESSMENT OF VARIOUS FORMULAE OF ESSENTIAL MINERALS AND TRACE ELEMENTS ON WHITELEG SHRIMP AT DIFFERENT SALINITIES(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 01-2022) Do, Viet Phuong; Nguyen, Thao Suong; Chau, Tai Tao; Nguyen, TK Loan; Touchet, Audric; Gutter, Gaetan; Mahl, Philippe; Phan, HoangWhiteleg shrimp (Litopenaeus vannamei) is now the main species cultivated in various geographic locations. Whiteleg shrimp have a wide range of salinity tolerance, but a matter of deficiency of minerals and trace elements need to be taken care of when shrimp are grown in low saline area. It may induce higher mortality and slower growth performances of shrimp. Two stages of shrimp juveniles were subsequently tested with different formulae of a liquid nutraceutical of essential minerals and trace elements. Each stage was performed in a 28-day trial with follow-up parameters of shrimp growth indices and environmental changes throughout the tests. The use of mineral supplementation in whiteleg shrimp diet in low salinity area significantly increased growth performance, survival rate and color intensity. This study has demonstrated the efficacy of a liquid form of mineral supplement product administered by top-coating onto the feed to shrimp during 4 weeks of grow-out at 5‰ salinity, but the application was dependent on formula and dose. Further research on application regime using this liquid mineral product should be performed to optimize a protocol for a whole culture crop as different stages of shrimp may require different supplementation doses.
- Ấn phẩmNHÂN GIỐNG VÔ TÍNH LAN HÀI ĐÀ LẠT (PAPHIOPEDILUM X DALATENSE)(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Trần, Thái Vinh; Đặng, Thị Thắm; H’ Yon, Niê BingLan Hài Đà Lạt (Paphiopedilum x dalatense) là một loài hiếm, cho hoa to với màu sắc biến đổi và lá có những đường vằn với những đốm khảm đẹp khó thấy. Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của hai nhóm chất hữu cơ khác nhau: Nhóm khoai tây, chuối và nhóm tryptone, nấm men, peptone lên quá trình sinh trưởng và phát triển của chồi lan Hài Đà Lạt; ảnh hưởng của NAA và acid humic đến sự ra rễ in vitro đã được khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường thích hợp cho sự hình thành và phát triển chồi cây là môi trường nuôi cấy MS bổ sung 100 g/L chuối và 100 g/L khoai tây (5,4 chồi/mẫu, 18,8 mm/chồi, 4,5 lá/chồi, 100% chồi sống) hoặc môi trường nuôi cấy MS bổ sung 1 g/L peptone (4,19 chồi/mẫu, 15 mm/chồi, 4 lá/chồi và 92% chồi sống). Môi trường thích hợp cho sự tạo rễ in vitro lan Hài Đà Lạt là môi trường nuôi cấy 1⁄2 MS bổ sung 1 mg/L NAA (5,2 lá/mẫu, 4,6 rễ/chồi, 3,56 cm/rễ, 100% chồi hình thành rễ). Tỷ lệ ra rễ đạt 100% trên môi trường nuôi cấy 1⁄2 MS bổ sung 2 mg/L acid humic và số rễ, chiều dài rễ đạt cao nhất (5 rễ/chồi, 5,5 cm/rễ) trên môi trường này. Kết quả nghiên cứu nhân giống in vitro lan Hài Đà Lạt góp phần bảo tồn và phát triển bền vững cũng như hướng tới việc nhân nhanh cây giống khỏe mạnh phục vụ thương mại hóa loài lan Hài quý.
- Ấn phẩmPHÁT HIỆN ĐỘT BIẾN GEN WASP TRÊN BỆNH NHÂN MẮC HỘI CHỨNG WISKOTT-ALDRICH(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Lương, Thị Lan Anh; Nguyễn, Thị Thanh Hoa; Nguyễn, Hải Hà; Nguyễn, Đăng TônHội chứng Wiskott-Aldrich (WAS) là một bệnh hiếm gặp gây suy giảm miễn dӏch nguyên phát liên kết với nhiễm sắc thể X, đặc trưng bởi sự giảm tiểu cầu và tiểu cầu kích thước nhỏ, bệnh chàm, tăng các nguy cơ ác tính,nhiễm trùng tái phát và nhiễm virus. Bệnh nhân có những triệu chứng lâm sàng nghiêm trӑng có thể dẫn đến tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trӏ sớm. Hội chứng WAS xảy ra do có sụ đột biến hoặc bӏ mất gen trên nhiễm sắc thể X là Wiskott-Aldrich Syndrome Protein (WASP), nằm trên nhánh ngắn của NST X tại vӏ trí Xp11.22–p11.23. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác đӏnh các đột biến có trên gen WASP ở một ố gia đình có con mắc WAS. Toàn bộ vùng gen mã hóa WASP và các vùng biên intron-exon cӫa gen đưӧc giải trình tự bằng phương pháp Sanger. Hai đột biến trên gen WASP đã được phát hiện ở hai trẻ bӏ WAS gồm một đột biến c.702insAC gây lệch khung đӑc từ amino acid 236 và tạo mã kết thúc tại vӏ trí codon 262 đuọc xác định ở bệnh nhân WA007 và một đột biến c.91G>A gây biến đổi acid glutamic thành lysine tại vӏ trí codon 31 đưӧc xác đӏnh ở bệnh nhân WA010. Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu của các đột biến trong gen WASP ở bệnh nhân WAS Việt Nam. Sàng lӑc đột biến trên gen WASP có thể giúp xác định nguyên nhân di truyền và góp phần quan trӑng trong chẩn đoán sӟm, quản lý lâm sàng và tư vấn di truyền cho bệnh nhân và các gia đình bị ảnh hưởng.
- Ấn phẩmKHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG DỊ ỨNG CỦA PICEATANNOL TỪ QUẢ SIM (RHODOMYRTUS TOMENTOSA)(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Võ, Thanh Sang; Nguyễn, Hoàng Nhật Minh; Ngô, Xuân QuảngPiceatannol được biết đến như là một hoạt chất có nhiều hoạt tính sinh học như kháng ung thư, kháng tiểu đường, kháng oxi hóa, kháng viêm và kháng béo phì. Trong nghiên cứu này, hoạt tính kháng dị ứng của piceatannol từ quả sim ở Phú Quốc được khảo sát thông qua mô hình thí nghiệm dưỡng bào RBL-2H3. Piceatannol được tách chiết thông qua các hệ dung môi khác nhau trên hệ thống sắc ký cột silica gel và phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao và được nhận diện dựa theo phương pháp phổ khối lượng và cộng hưởng từ hạt nhân. Quá trình thoát bọng của dưỡng bào được khảo sát thông qua đo hàm lượng β-hexsosaminidase giải phóng ra trong môi trường nuôi cấy. Hình thái tế bào được quan sát và mô tả thông qua kính hiển vi soi ngược. Độc tính của chất thử nghiệm được kiểm tra thông qua phương pháp MTT ((3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyl tetrazolium bromide). Kết quả khảo sát cho thấy piceatannol có thể ức chế đáng kể lên quá trình thoát bọng và làm giảm sự giải phóng của β-hexosaminidase xuống còn 44% tại nồng độ 40 μM. Thêm vào đó, piceatannol có thể bảo vệ tế bào chống lại sự thay đổi hình thái do tác nhân hoạt hóa calcium ionophore gây ra. Đáng chú ý, piceatannol không gây độc tính đáng kể lên tế bào RBL-2H3 tại dãy nồng độ khảo sát 10-40 μM. Vì vậy, piceatannol từ quả sim rừng Phú Quốc có thể được xem như là một tác nhân kháng dị ứng tiềm năng.
- Ấn phẩmCẢI THIỆN KHẢ NĂNG RA RỄ IN VITRO VÀ THÍCH NGHI Ở GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM CỦA CÂY ARTICHOKE “GIỐNG TÍM” VÀ CÂY ARTICHOKE “GIỐNG XANH”(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Hoàng, Đắc Khải; Nguyễn, Thị Như Mai; Hoàng, Lê Lan AnhArtichoke (Cynara scolymus L.), cây dược liệu có giá trị kinh tế, chứa hàm lượng các hợp chất phenolic, đặc biệt là cynarine có vai trò quan trọng trong việc phòng chống ung thư, bệnh tim mạch, loãng xương, đái tháo đường, thoái hóa thần kinh... Hiện nay, vi nhân giống Artichoke đã đạt một số thành tựu. Tuy nhiên, hiệu quả ra rễ cũng như chất lượng cây giống in vitro vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Trong nghiên cứu này, cải thiện chất lượng cây giống Artichoke liên quan đến chất lượng chồi và loại giá thể phù hợp trong giai đoạn ra rễ in vitro đã được nghiên cứu trên Artichoke “giống Tím” (VA) và Artichoke “giống Xanh” (GA). Kết quả nghiên cứu cho thấy, chồi (1,5 cm) nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/L KIN là thích hợp nhất cho giai đoạn nhân nhanh chồi VA với các chỉ tiêu như số chồi/cụm (3,67 chồi), số chồi ≥ 2 cm (3 chồi); trong khi đó, 1,0 mg/L BA thích hợp cho quá trình nhân chồi GA (5,33 chồi; 5,00 chồi; tương ứng) sau 4 tuần nuôi cấy. Ngoài ra, hiệu quả ra rễ in vitro gia tăng khi sử dụng 8 g/L agar thương mại đối với VA và 3 g/L gelrite đối với GA. Bên cạnh đó, hệ thống nuôi cấy túi nylon (120 mm × 250 mm) có tiềm năng trong sản suất cây giống (15 cây/bịch) và có thể ứng dụng trong sản xuất cây giống ở quy mô lớn. Ngoài ra, những cây con VA và GA có nguồn gốc nuôi cấy in vitro cho khả năng thích nghi, sinh trưởng, phát triển tốt sau 8, 12 và 20 tuần ở giai đoạn vườn ươm.
- Ấn phẩmỨNG DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHỈNH SỬA HỆ GEN Ở THỰC VẬT(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Nguyễn, Đức ThànhCông nghệ chỉnh sửa hệ gen là các kỹ thuật sửa đổi gen như gây đột biến có mục tiêu hoặc chèn/xóa/thay thế tại các vị trí cụ thể trong hệ gen của các sinh vật sống. Chỉnh sửa hệ gen dựa vào việc tạo ra sự đứt sợi đôi DNA ở vị trí chuyên biệt và việc sửa chữa DNA thông qua kết nối đầu cuối không tương đồng hoặc sửa trực tiếp tương đồng. Sự phát triển các enzyme cắt trình tự chuyên biệt DNA (sequence-specific nuclease, SSN) đã cho phép chỉnh sửa chính xác gen mục tiêu. Những SSN này bao gồm: các siêu enzyme cắt DNA (meganuclease, MN), enzyme cắt DNA ngón tay kẽm (zinc finger nuclease, ZFN), các enzyme cắt DNA giống yếu tố hoạt hóa phiên mã (transcription activator- like effector nuclease, TALEN) và các enzyme cắt DNA gắn vào nhóm các trình tự lặp lại ngắn đọc xuôi ngược đều giống như nhau (clustered regularly interspaced short palindromic repeats/Cas, CRISPR/Cas) bao gồm CRISPR/Cas9 (từ vi khuẩn Streptococcus pyogenes) và CRISPR/Cpf1 (từ vi khuẩn Prevotella và Francisella1). Đây là các công cụ chỉnh sửa gen được sử dụng để tạo sự đứt sợi đôi DNA tại vị trí cụ thể của hệ gen. Gần đây, hệ thống chỉnh sửa base (base editing, BE) và chỉnh sửa prime (prime editing, PE) cũng đã được thông báo. Bài tổng quan này trình bày những vấn đề cơ bản của các công cụ này và ứng dụng của chúng trong chỉnh sửa gen ở thực vật, đặc biệt là cung cấp các thông tin cập nhật nhất về ứng dụng trong cải tiến giống cây trồng.
- Ấn phẩmPHÁT TRIỂN BIOSENSOR TỪ TẾ BÀO SACCHAROMYCES CEREVISIAE Y486 MANG PHỨC HỢP CPR-CYP3A4 VÀ DIN7-GFP ĐỂ THỬ NGHIỆM PHÁT HIỆN HỢP CHẤT TIỀN UNG THƯ(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Nguyễn, Thị Thu Huyền; Bùi, Văn NgọcTrên thế giới và ở Việt Nam, mỗi ngày đều có một lượng lớn các chất độc hại từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, sản xuất thực phẩm và dịch vụ chăm sóc sức khỏe thải ra môi trường. Trong đó, nhiều hợp chất ngoại sinh bản chất là chất vô hại và không gây ung thư (tiền ung thư), nhưng khi vào cơ thể được hệ enzyme cytochrome P450 monoxygenase (CYP) chuyển hoá thành hợp chất nguy hại gây đột biến gen và có khả năng gây ung thư. Do đó, việc phát triển công cụ phân tích sinh học để nhanh chóng xác định các hợp chất tiền ung thư sẽ có ý nghĩa rất lớn trong công tác an toàn thực phẩm và kiểm soát môi trường. Mục tiêu của nghiên cứu này là tạo biosensor từ chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae Y486 được đồng biến nạp hai phức hợp promoter–gen là CYP3A4– CPR và DIN7–GFP. Kết quả cho thấy, protein tái tổ hợp đều được biểu hiện tốt ở tất cả các chủng biến nạp. Khối lượng phân tử của CPR và CYP3A4 tái tổ hợp lần lượt là 75 kDa và 56 kDa. Enzyme CYP3A4 chỉ thể hiện hoạt tính chuyển hoá khi được biểu hiện cùng với CPR. Các hằng số động học Km, Vmax, Vmax/Km của phức hệ enzyme CPR–CYP3A4 lần lượt tương ứng là 3,2 μM, 3,5 pmol/pmol CYP/min, 1,1 μL/pmol CYP/min. Khi đồng biểu hiện phức hợp enzyme này với phức hợp DIN7 GFP trong tế bào chủng Y486 đã xác định được aflatoxin B1 trong khoảng 0,1–0,4 μM và benzo(c)phenanthrene trong khoảng 10-40 μM. Tuy nhiên, biosensor này không phát hiện được sự có mặt của các hợp chất tiền ung thư khác như, N-Nitrosodimethylamine ở tất cả các nồng độ khảo sát. Đây là kết quả bước đầu cho việc tiếp tục phát triển các dạng biosensor để xác định nhiều hợp chất tiền ung thư khác trong tự nhiên thông qua việc thiết kế lại hệ biểu hiện hay thay thế các CYPs và promoter cảm ứng đặc hiệu khác nhau.
- Ấn phẩmBIỂU HIỆN MỘT SỐ GEN ĐIỀU HÒA MIỄN DỊCH Ở BỆNH BẠCH CẦU TỦY MẠN(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Nguyễn, Hoàng Giang; Nguyễn, Thanh Huyền; Nguyễn, Thị XuânBệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML) là bệnh ung thư máu có sự tăng trưởng bất thường của các tế bào bạch cầu dòng tủy ở tất cả các giai đoạn biệt hóa. Hơn 90% các trường hợp bị bệnh là do đột biến chuyển đoạn thuận nghịch hai gen BCR và ABL trên nhiễm sắc thể t (9; 22) dẫn đến hình thành nhiễm sắc thể bất thường Philadelphia. Protein BCR-ABL biểu hiện hoạt động tyrosine kinase bất thường làm thay đổi hoạt động của các tín hiệu STAT và NF-κB gây ra sự tăng sinh không kiểm soát của tế bào dòng tủy. Ba gen CTLA-4, PD-1 và LAG3 có chức năng kiểm soát miễn dịch bằng cơ chế ức chế hoạt động của tế bào T hỗ trợ. Gen klotho có chức năng chống viêm và ung thư. Các gen tín hiệu STAT có vai trò điều hòa chức năng của tế bào thông qua sự phosphoryl hóa và gen IκB-α điều hòa thông qua sự giáng hóa trong tế bào ung thư. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành xác định biểu hiện mRNA của các gen này trên tế bào bạch cầu của bệnh nhân CML bằng kỹ thuật realtime-PCR. Kết quả cho thấy có sự tăng rõ rệt biểu hiện của các gen tín hiệu STAT- 1 và STAT-6 và biểu hiện của gen LAG3 giảm đi ở bệnh nhân CML. Biểu hiện tăng bất thường của gen STAT1 và STAT6 cho thấy vai trò quan trọng của các gen tín hiệu này điều hòa hoạt động của tế bào miễn dịch dẫn tới sự hình thành và phát triển bệnh CML và có thể là các marker quan trọng vàtiềm năng trong chẩn đoán phát hiện sớm ung thư CML.
- Ấn phẩmNGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO VÀ SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN EX VITRO CÂY HOA CÚC CHI (CHRYSANTHEMUM INDICUM L.) TẠI ĐÀ LẠT - LÂM ĐỒNG(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Phan, Xuân Huyên; Trương, Ngọc Thảo Vy; Nguyễn, Thị Phượng HoàngCây hoa cúc chi (Chrysanthemum indicum L.) là một loại thảo dược quí và tốt cho sức khỏe của con người. Kết quả cho thấy môi trường MS bổ sung 25 g/L sucrose, 9 g/L agar, pH 5,8 là thích hợp nhất cho sự tái sinh và sinh trưởng chồi (chiều cao chồi đạt 2,41 - 2,47 cm, 1 chồi/mẫu). Môi trường MS bổ sung các nồng độ BA (0,1, 0,5, 1, 1,5, 2 mg/L), Kinetin (0,1, 0,5, 1, 1,5, 2 mg/L) và TDZ (0,1, 0,5, 1 mg/L) không phù hợp cho sự tái sinh và sinh trưởng chồi. Sự tái sinh và sinh trưởng chồi trên môi trường có bổ sung 1 g/L than hoạt tính tốt hơn (chiều cao cây 3,45 cm) môi trường không bổ sung than hoạt tính (chiều cao cây 2,46 cm). Môi trường MS bổ sung 0, 0,1, 0,5, 1 mg/L IBA, 25 g/L sucrose, 9 g/L agar, pH 5,8 đều phù hợp cho sự tạo rễ in vitro, tỷ lệ tạo rễ đạt 100%. Vụn xơ dừa là giá thể thích hợp nhất chuyển cây hoa cúc chi cấy mô ra ngoài vườn ươm, tỷ lệ sống đạt 100% và cây sinh trưởng tốt. Tưới phân Nitrophoska là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng phát triển cây hoa cúc chi trồng trên giá thể vụn xơ dừa trong điều kiện nhà kính (chiều cao cây 61,70 cm, 100,80 hoa/cây, đường kính hoa 1,68 cm, khối lượng tươi 0,376 g/hoa). Kết quả cũng cho thấy, cây hoa cúc chi sinh trưởng phát triển tốt ở khí hậu Đà Lạt - Lâm Đồng, ra hoa quanh năm và có thể sử dụng cây giống có nguồn gốc từ nuôi cấy mô để trồng trong nhà kính.
- Ấn phẩmPHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH TRÌNH TỰ VÀ ĐÁNH GIÁ BIỂU HIỆN CỦA GEN MÃ HÓA ACETOACETYL-CoA THIOLASE (AACT) Ở SÂM NGỌC LINH (PANAX VIETNAMENSIS HA ET GRUSHV.)(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Vũ, Thị Trinh; Lưu, Hàn Ly; Huỳnh, Thị Thu Huệ; Lê, Thị Thu HiềnSâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) thuộc chi Nhân sâm (Panax L.) là loài đặc hữu và nguồn gen đặc biệt quý hiếm của Việt Nam. Ginsenoside là một trong những thành phần chính quyết định giá trị quan trọng trong y dược của sâm Ngọc Linh và các loài khác thuộc chi Nhân sâm. Gen mã hóa acetoacetyl-CoA thiolase (AACT) ở sâm Ngọc Linh được xem là gen quan trọng tham gia vào con đường sinh tổng hợp ginsenoside. Trong nghiên cứu này, cDNA gen mã hóa AACT được phân lập từ sâm Ngọc Linh với vùng mang mã có kích thước 1224 bp, mã hóa cho 408 amino acid. Trình tự cDNA gen mã hóa AACT được công bố trên GenBank với mã số MZ272018, có sự tương đồng so với gen này ở loài Panax notoginseng KJ804173.1 là 99,08%. Tuy có một số điểm khác biệt trong trình tự cDNA gen mã hóa AACT ở sâm Ngọc Linh so với loài tham chiếu nhưng trình tự protein do gen mã hóa mang đầy đủ các đặc tính của AACT với các vị trí quan trọng liên quan tới hoạt tính protein đều được bảo toàn. Kết quả kiểm tra cấu trúc bậc I của protein trên InterPro cho thấy protein AACT ở sâm Ngọc Linh chứa ba vùng, bao gồm vùng thiolase-like (17-285), N-terminal (18- 276) và C-terminal (286-406). Phân tích cây phát sinh chủng loại sử dụng trình tự gen mã hóa AACT cho thấy mối quan hệ loài gần gũi của P. vietnamensis với hai loài P. notoginseng và Trachyspemum ammi. Mức độ biểu hiện khác nhau của gen mã hóa AACT ở mô lá và thân rễ tại các thời kỳ phát triển 1, 4, 6 và 11 năm tuổi của sâm Ngọc Linh đã được đánh giá sử dụng phương pháp real-time PCR. Gen mã hóa AACT được biểu hiện ở thân rễ mạnh hơn ở lá và mạnh nhất ở thân rễ sâm Ngọc Linh 11 năm tuổi. Kết quả thu được góp phần cung cấp thông tin về vai trò của yếu tố di truyền trong quá trình sinh tổng hợp ginsenoside ở sâm Ngọc Linh nói riêng và các loài thuộc chi Nhân sâm nói chung.
- Ấn phẩmSO SÁNH ĐẶC ĐIỂM HỆ GEN TY THỂ CỦA SÁN LÁ RUỘT NHỎ HAPLORCHIS TAICHUI VỚI METAGONIMUS YOKOGAWAI VÀ ĐƠN VỊ MÃ HÓA RIBOSOME VỚI H. PUMILIO (HỌ HETEROPHYIDAE)(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Lê, Thị Việt Hà; Nguyễn, Thị Khuê; Đồng, Văn Quyền; Lê, Thanh HòaSán lá ruột nhỏ Haplorchis taichui và H. pumilio thuộc họ Heterophyidae (Trematoda: Platyhelminthes), được nghiên cứu còn rất hạn chế, đặc biệt là chỉ thị phân tử hệ gen ty thể và đơn vị mã hóa ribosome. Chúng tôi thu nhận toàn bộ hệ gen ty thể (mtDNA) của loài H. taichui và toàn bộ phần mã hóa của đơn vị mã hóa ribosome (rTU hay rDNA) loài H. taichui và H. pumilio của Việt Nam. Dữ liệu nucleotide và amino acid được so sánh giữa H. taichui và Metagonimus yokogawai về các đặc điểm thành phần kiến tạo gen/hệ gen, đặc điểm sử dụng bộ mã hoặc nucleotide (độ lệch skew) và các cấu trúc lặp liền kề (TRU). Hệ gen ty thể của chủng Htai-QT3-VN có độ dài 15.120 bp và M. yokogawai (15.258 bp, Hàn Quốc, KC330755) chứa 36 gen, gồm 12 gen mã hóa protein (cox1, cox2, cox3, nad1, nad2, nad3, nad4L, nad4, nad5, nad6, atp6 và cob), 2 gen RNA ribosome (rRNA), 22 gen RNA vận chuyển (tRNA hay trn) và một vùng không mã hóa (NCR) giữa trnE và trnG, chia thành 2 tiểu vùng chứa 5 cấu trúc lặp (182-183 bp/cấutrúc). H. taichui (Việt Nam và Lào) sử dụng A = 19,56%, T = 39,71%, G = 28,34%, C = 12,39% (A+T là 59,27% và G+C là 40,73%) cho kiến tạo mtDNA, có giá trị độ lệch (skew/skewness) ở A+T là âm (–0,340) và G+C là dương (0,392); cho 12 gen mã hóa protein (PCG) tương tự; nhưng cho gen ribosome ty thể (MRG, gồm 16S/rrnLvà 12S/rrnS) với A+T ít hơn (57,22%) và với G+C nhiều hơn (42,78%). M. yokogawai có tỷ lệ sử dụng A+T thấp hơn (mtDNA/55,68%,PCG /55,96%, MRGs/54,15%) và G+C cao hơn so với loài H. taichui. H. taichui củaViệt Nam và Lào có 10.164 bp mã hóa cho 3.376 amino acid để kiến tạo 12 PCG với những bộ mã sử dụng nhiều nhất là Phenylalanine (Phe-TTT) và Leucine (Leu-TTG), những bộ mã ít nhất là Glutamine (Gln-CAA), Arginine (Arg-CGC), có thêm Thr-ACA/ACC ở M. yokogawai. Phần mã hóa đơn vị mã hóa ribosome (từ 5’ 18S đến 3’ 28S) của H. taichui (7.268 bp) và H. pumilio (7.416 bp) được xác định có 5 vùng gen gồm 18S rDNA, ITS1, 5.8S rDNA, ITS2 và 28S rDNA. Các gen 18S và 5.8S của cả 2 loài có độ dài như nhau (1.992 bp/18S, 160 bp/5.8S), gen 28S khác nhau (3.875 bp/H. taichui và 3.870 bp/H. pumilio). ITS1 ở H. taichui (797 bp) và ITS2 ở H. pumilio (280 bp) không chứa cấu trúc lặp, trong khi đó ITS1 ở H. pumilio (1.106 bp) chứa 5 cấu trúc lặp liền kề TRU gồm 136 bp cho 3 TRU và 116 bp cho 2 TRU và ITS2 ở H. taichui (444 bp) chứa 3 TRU (83–85 bp/cấu trúc).
- Ấn phẩmDỊCH CHIẾT ETHANOL TỪ LÁ CÂY ĐƠN MẶT TRỜI (EXCOECARIA COCHINCHINENSIS LOUR.) ỨC CHẾ SỰ DI TRÚ VÀ LÀM DỪNG CHU KỲ PHÂN CHIA CỦA TẾ BÀO UNG THƯ DẠ DÀY MKN45(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Nguyễn, Phú Hùng; Lê, Thị Thanh HươngTheo Globocan năm 2020, ung thư dạ dày là dạng ung thư phổ biến hàng thứ 5 trên thế giới. Việt Nam thuộc nhóm 20 quốc gia có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày cao nhất thế giới với 17.906 trường hợp mắc mới và 14.615 trường hợp tử vong năm 2020. Các sản phẩm dược liệu từ nhiên đang ngày càng phổ biến và được sử dụng trên toàn thế giới như một liệu pháp thay thế bổ sung. Đơn mặt trời (Excoecaria cochinchinensis Lour.) là loại thảo dược phân bố rộng rãi ở nhiều nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Những hiểu biết về tác dụng của cây Đơn mặt trời đối với bệnh ung thư còn rất hạn chế. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thu nhận dịch chiết ethanol từ lá của cây Đơn mặt trời và đánh giá tác động của nó lên tế bào ung thư dạ dày MKN45. Kết quả cho thấy, dịch chiết của cây Đơn mặt trời có khả năng ức chế mạnh sự tăng sinh của tế bào ung thư dạ dày MKN45. Tỷ lệ ức chế từ 40% - 80% so với đối chứng, với giá trị IC50 được xác định là 0,07 mg/mL. Mặt khác, dịch chiết từ cây Đơn mặt trời cũng làm giảm mức độ di trú của tế bào từ 20% - 70% so với đối chứng tùy theo nồng độ xử lý. Phân tích bằng Flow cytometry cũng đã chỉ ra rằng, dịch chiết của cây Đơn mặt trời đã làm dừng chu kỳ tế bào ở pha G2/M. Nghiên cứu này cho thấy, dịch chiết lá cây Đơn mặt trời có tiềm năng ức chế tế bào ung thư dạ dày.
- Ấn phẩmPHÂN TÍCH ĐA DẠNG VÀ MỐI TƯƠNG QUAN DI TRUYỀN CÁC GIỐNG HOA SALEM (LIMONIUM SINUATUM L.) TẠI LÂM ĐỒNG BẰNG KĨ THUẬT RAPD-PCR(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Lê, Văn Thức; Lê, Đức Hưng; Lê, Thị Thùy LinhTrong nghiên cứu này, 12 giống hoa salem đã được thu thập từ các vùng trồng hoa nổi tiếng tại Lâm Đồng (Vạn Thành, Thái Phiên, Đa Thiện, Hà Đông và Trại Mát). Mẫu lá non của các giống có hoa sau 45 ngày trồng tại vườn thực nghiệm được thu nhận để tách chiết DNA và phân tích sự tương quan di truyền bằng chỉ thị RAPD với 13 primer ngẫu nhiên. Kết quả ghi nhận được cho thấy, trong tổng số 145 băng RAPD thu được có 133 băng đa hình (91,72%) và 12 băng đồng hình (8,28%). Trong đó, primer OPB-03 có tổng số băng khuếch đại cao nhất là 17 băng (16 băng đa hình); hệ số khác biệt di truyền dao động từ 0,30 đến 0,90, trung bình đạt 0,55. Kết quả phân tích cây phân nhóm di truyền bằng phần mềm NTSYSpc 2.1 chỉ ra rằng, 12 giống hoa salem được chia thành 4 nhóm lớn: nhóm I gồm 3 giống (hồng, hồng đậm và hồng cánh sen); nhóm II gồm 2 giống (tím xanh và tím mới); nhóm III gồm 6 giống (hồng phấn, tím cũ, trắng mới, trắng cũ, vàng mơ và tím hạt); nhóm IV chỉ có 1 giống (vàng hạt). Kết quả này không những là cơ sở dữ liệu quan trọng trong công tác bảo tồn nguồn gen salem mà còn cung cấp những thông tin cần thiết để chọn tạo giống đột biến loài hoa này trong thời gian tới.
- Ấn phẩmẢNH HƯỞNG CỦA PMSG VÀ HCG LÊN SỰ THAY ĐỔI ESTRADIOL VÀ PROGESTERONE CỦA CẦY VÒI HƯƠNG (PARADOXURUS HERMAPHRODITUS)(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Nguyễn, Thị Thu Hiền; Nguyễn, Thị Phương Thảo; Võ, Lê Ngọc Trâm; Nguyễn, Thanh BìnhCầy Vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus) thuộc họ Cầy (Viverridae), bộ ăn thịt (Carnivora). Loài động vật này phân bố rộng rãi ở Nam và Đông Nam Á; hiện được nuôi khá phổ biến ở Việt Nam. Sự chậm lên giống lần đầu và chậm động dục lại làm giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Cầy Vòi hương. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả các liều khác nhau của PMSG và HCG lên sự thay đổi hormone sinh dục (Estradiol-E2, Progesterone-P4), làm cơ sở cho việc sử dụng kích dục tố trong hỗ trợ sinh sản trên cầy vòi hương. Tổng cộng có 54 Cầy Vòi hương cái được sử dụng trong thí nghiệm này. PMSG/HCG (Gestavet-Vương quốc Anh) được tiêm bắp theo 3 công thức (CT): CT1: 20 IU PMSG + 10 IU HCG; CT2: 30 IU PMSG + 15 IU HCG và CT3: 40 IU PMSG + 20 IU HCG. Kết quả cho thấy, hàm lượng E2 trong phân của cầy ở các nghiệm thức bắt đầu tăng lên ở ngày thứ 1 sau khi tiêm, tăng đạt đỉnh vào ngày thứ 2. Hàm lượng P4 ở các nhóm cầy thí nghiệm bắt đầu tăng vào ngày thứ 1 và đạt đỉnh vào ngày thứ 3 hoặc thứ 4.Hàm lượng E2 và P4 trong phân của nhóm cầy được tiêm ở CT3 cao hơn đáng kể so với CT1 và CT2 (P<0,05). Kết quả này cung cấp giá trị tham khảo đáng tin cậy cho các nghiên cứu tiếp theo về sử dụng kích dục tố trên Cầy Vòi hương để vừa khai thác, vừa bảo tồn loài động vật quý này.
- Ấn phẩmNGHIÊN CỨU SỰ BIỂU HIỆN CỦA KHÁNG NGUYÊN S1 TÁI TỔ HỢP CỦA VIRUS GÂY BỆNH TIÊU CHẢY CẤP Ở LỢN (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA VIRUS) TRONG CÂY THUỐC LÁ NICOTIANA BENTHAMIANA(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Hồ, Thị Thương; Lê, Thu Ngọc; Nguyễn, Thu GiangTiêu chảy cấp ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea, PED) là một bệnh truyền nhiễm với tỷ lệ tử vong cao, đặc biệt ở heo con đang bú mẹ. Trong số các protein cấu trúc của virrus gây bệnh tiêu chảy cấp ở lợn (Porcine Epidemic Diarrhea Virus, PEDV), protein S gồm 2 tiểu phần S1 và S2 trên bề mặt PEDV, là một homotrimer protein, đóng vai trò quan trọng trong việc gắn virus vào các thụ thể tế bào. Trong đó, tiểu phần S1 được xem như là tiểu phần quan trọng trong việc phát triển vaccine hiệu quả chống lại PEDV. Trong nghiên cứu này, với mục tiêu biểu hiện S1 dưới dạng cấu trúc nguyên bản trimer và oligomer của trimer dựa vào tương tác S-tag và S-protein, đoạn gen mã hóa protein S1 của PEDV đượcgắn với motif GCN4pII, GCN4pII-Stag, sau đó được gắn vector tách dòng pRTRA dưới sự điều khiển của promoter 35S CaMV, tiếp đến toàn bộ cassete này được chèn vào vector pCB301 và biến nạp vào chủng Agrobacterium tumefaciens để biểu hiện tạm thời trên cây thuốc lá Nicotiana benthamiana. Sự biểu hiện của các protein S1 tái tổ hợp trong cây thuốc lá đã được xác định bằng phương pháp Western blot. Kết quả cho thấy mức độ biểu hiện của các protein S1 trimer và S1 trimer S-tag trong cây thuốc lá là bằng nhau, điều này cũng chỉ ra rằng việc dung hợp S-tag không làm ảnh hưởng đến mức độ biểu hiện của protein, tuy nhiên mức độ biểu hiện của các protein S1 là tương đối thấp, đạt 0,005% protein tan tổng số. Thêm vào đó, sự biểu hiện đồng thời của hai protein S1 trimer S-tag và Sprotein-tp trong lá thuốc lá N. benthamiana khi biến nạp đồng thời hai chủng A. tumefaciens mang vector tương ứng cũng đã được xác định bằng Western blot. Đây là nghiên cứu tiền đề cho việc phát triển vaccine tiểu đơn vị ở thực vật phòng chống sự lây nhiễm của PEDV.
- Ấn phẩmPHÁT HIỆN ĐỘT BIẾN c.199-10T>G TRÊN GEN SLC25A20 Ở BỆNH NHÂN BỊ RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA ACID BÉO Ở VIỆT NAM(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Nguyễn, Huy Hoàng; Dương, Chí Thành; Vũ, Chí DũngRối loạn chuyển hóa acid béo (Fatty acid oxidation disorders -FAODs) là một tập hợp các bệnh hiếm gặp ảnh hưởng đến việc sản xuất năng lượng của ty thể do quá trình oxy hóa của acid béo (β- oxidation) bị gián đoạn, khiến cho cơ thể người bệnh bị thiếu hụt năng lượng và nhiễm độc. Đột biến xảy ra ở các gen khác nhau trong quá trình chuyển hóa acid béo ở ty thể có thể dẫn đến các dạng rối loạn chuyển hóa acid béo khác nhau. Mục tiêu của nghiên cứu này là sàng lọc và xác định đột biến liên quan đến rối loạn chuyển hóa acid béo trên bệnh nhân Việt Nam thông qua phương pháp giải trình tự toàn bộ vùng mã hóa. Kết quả đã phát hiện một đột biến gây bệnh đã biết c.199-10T>G dạng đồng hợp tử ở vùng intron 2 của gen SLC25A20. Đột biến trên gen SLC25A20 thường dẫn đến thiếu hụt enzyme điều hòa vận chuyển acylcarnitine và carnitine (CACTD) – một dạng hiếm gặp của FAODs. Phân tích “in silico” đã dự đoán sự thay đổi từ T sang G gây ra bởi đột biến c.199-10T>G có ảnh hưởng đến vị trí cắt gắn tiền mRNA và dẫn tới sự bỏ qua vùng mã hóa trong quá trình cắt gắn tiền mRNA của gen SLC25A20. Phân tích di truyền trong gia đình cho thấy bố và mẹ của bệnh nhân đều mang đột biến c.199-10T>G dạng dị hợp tử. Kết quả này không chỉ giúp cho việc chẩn đoán và xây dựng phương hướng điều trị cho bệnh nhân thêm hiệu quả mà còn cung cấp thông tin quan trọng phục vụ việc nghiên cứu và tư vấn di truyền cho những bệnh nhân người Việt Nam mắc FAODs trong tương lai.
- Ấn phẩmMolecular Emissions from Circumstellar Envelopes in the Presence of a Binary Companion(Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Tran, Ngoc Hung; Dinh, Van Trung; Pham, Dong Bang; Nguyen, Thi Thanh BaoFollowing our previous work on the hydrodynamic simulations of the structure of circumstellar envelopes in the presence of a binary companion, in this paper we present the results of radiative transfer calculations for molecular emission line HC3N J = 5 – 4 from these simulated circumstellar envelopes. We show that the molecular line emission traces closely the spiral pattern and the associated density enhancement induced by the presence of the binary companion. The molecular emission provides the spatial kinematics of the features within the envelope, which is valuable for estimating the orbital parameters of the binary system and for inferring the physical conditions of the gas within the envelope. We also show that the appearance of the molecular emission depends on the viewing angle resulting in a range of shapes from the spiral pattern to ring-like features, similar to that observed recently in a number of circumstellar envelopes at high angular resolution.
- Ấn phẩmPhotocurrents in GaAs GaAs Quantum Wires Including Excitonic Effects(Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Huynh, Thanh Duc; Ngo, CongPhotocurrent induced by ultrafast laser pulses in [001]-oriented GaAs quantum wires with a square cross section is investigated using the multiband semiconductor Bloch equations with the inclusion of electron-hole interaction. Influences of excitonic effects and quantum confinement effects on the photocurrent are evaluated and discussed.
- Ấn phẩmSupercontinuum Generation in Photonic Crystal Fibers Infiltrated with Liquids(Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Cao, Long VanIn this paper we present the development of a new direction in so-called optofluidics, namely the research of photonic crystal fibers (PCF) infiltrated with liquids. In particular we concentrate on the flagship application of PCF, the process of Supercontinuum Generation (SG), in which injected monochromatic pulse may be dramatically broadened (spectrally), which creates a coherent beam generation of high brightness comparable to that of monochromatic lasers. The supercontinuum is formed when a collection of nonlinear processes act together upon a pump beam in order to cause severe spectral broadening of the original pump beam. Explanation of this process is based on numerical simulations for Generalized Nonlinear Schrodinger equation (GNLSE)¨ which describes the rich nonlinear dynamics of pulse propagation in nonlinear dispersive media. All nonlinear phenomena involved in SG will be analyzed. We present specially activity of the Polish-Vietnamese Group from the beginning in 2016 to recent time in this domain. Some recent scientific projects concerning fiber physics of our Group in the near future, especially applications in Biology and Medicine will be mentioned.
- Ấn phẩmNuclear Mean-Field Description of Proton Elastic Scattering by 12 , 13 12,13 C at Low Energies(Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Nguyen, Le Anh; Phan, Nhat Huan; Nguyen, Hoang PhucNuclear reactions of proton by light nuclei at low energies play a key role in the study of nucleosynthesis which is of interest in nuclear astrophysics. The most fundamental process which is very necessary is the elastic scattering. In this work, we construct a microscopic proton-nucleus potential in order to describe the differential cross-sections over scattering angles of the proton elastic scattering by 12C and 13C in the range of available energies 14 - 22 MeV. The microscopic optical potential is based on the folding model using the effective nucleon-nucleon interaction CDM3Yn. The results show the promising use of the CDM3Yn interactions at low energies, which were originally used for nuclear reactions at intermediate energies. This could be the premise for the study of nuclear reactions using CDM3Yn interaction in astrophysics at low energies.
- Ấn phẩmInteraction Between Two Jackiw-Rebbi States in Interfaced Binary Waveguide Arrays with Cubic-quintic Nonlinearity(Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Tran, Xuan Truong; Nguyen, Nhu Xuan; Nguyen, The Quang; Nguyen, Van Toan; Nguyen, Tuan LinhWe study the coupling and switching effects of two discrete relativistic quantum JackiwRebbi states in interfaced binary waveguide arrays with cubic-quintic nonlinearity. Like in the case with Kerr nonlinearity, two Jackiw-Rebbi states can couple efficiently to each other in the low-power regime, show the switching effect in the intermediate-power regime, and possess the trapping effect in the high-power regime. However, in the case with cubic-quintic nonlinearity, if the input Jackiw-Rebbi state power is increased further, one can observe the quasi-linear coupling effect between two Jackiw-Rebbi states which has not been found between two Jackiw-Rebbi states in interfaced binary waveguide arrays with Kerr nonlinearity.
- Ấn phẩmSynthesis of ZnSe Nanocrystals for Solid-state Lighting Applications(Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Bui, Thi Thu Hien; Hoang, Nhu Thanh; Trinh, Duc Thien; Pham, Nguyen Hai; Tran, Thi Kim ChiWe report the large-scale synthesis of highly luminescent ZnSe nanocrystals (NCs) by a simple and low-cost hydrothermal method. XRD (X-ray Diffraction) and HR-TEM (High Resolution Transmission Microscopy) characterization studies confirmed the formation of as-synthesized ZnSe NCs in cubic structure. The optical property of ZnSe NCs was tunable via controlling the Zn:Se molar precursor ratios (0.5:1–1.5:1), reaction temperature (150–200˚C), and reaction time (5–30 h). The ZnSe NCs hydrothermally treated at 190˚C for 20 h with the Zn:Se precursor ratio of 1:1 exhibited the highest photoluminescence quantum yield after the 355 nm excitation. The current–voltage (I–V) characteristics of the ZnSe NCs show its promising application in the solidstate lighting.