HCMUS - Danh sách bài trích tạp chí (The List of Article)
Cách thức đăng nhập
Điều kiện đăng nhập:
- Bạn đọc đã đăng ký sử dụng thư viện;
- Bạn đọc thuộc nhóm đối tượng phục vụ tại Thư viện;
- Bạn đọc tuân thủ quy định của bộ sưu tập số.
Cách thức đăng nhập:
- Đối với sinh viên:
Username: 12000+[Mã số sinh viên] - Đối với học viên cao học và nghiên cứu sinh:
Username:12000+3+[Mã số học viên/Nghiên cứu sinh--Bỏ chữ cái (N/C)] - Đối với Cán bộ-Giảng viên:
Username:12000+9000+[Mã số cán bộ--Đầy đủ 4 chữ số]
Duyệt HCMUS - Danh sách bài trích tạp chí (The List of Article) theo Năm xuất bản
- Ấn phẩmOPTIMIZATION OF FERMENTATION MEDIUM FOR SPORE PRODUCTION OF Paenibacillus polymyxa IN937a AND ITS ANTIFUNGAL ACTIVITY(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 01-2022) Pham, Trung Hieu; Tran, Dai Lam; Le, The Tam; Vu, Thi Thoa; Nguyen, Thi Phuong Thao; Ho, Tu Cuong; Vu, Dinh Hoang; Le, Dang QuangIn this study, we optimized the fermentation medium for spore production of Paenibacillus polymyxa IN937a. Seven factors including molasses, glucose, magnesium sulfate, potassium pyrophosphate, yeast extract, zinc sulfate, and ammonium sulfate are selected as the basis for the screening of factors affecting the spore production of P. polymyxa IN937a by the Plackett-Burman experiment. Based on the analysis of the Plackett-Burman matrix, the result showed that yeast extract, molasses, and ammonium sulfate were the three main impact factors (P < 0.05), which affected the yield of P. polymyxa IN937a spores. Then, the optimum combination of the three factors was subsequently optimized by the response surface methodology (RSM) using Box-Behnken design to increase the spore production in P. polymyxa IN937a fermentation. The obtained results by RSM predicted that maximum spore density of P. polymyxa IN937a was 6.606×109 spore/mL after 48 hours of the experiment when the appropriate medium for the spore production of P. polymyxa IN937a included yeast extract 14.44 g/L, molasses 19.14 g/L, and ammonium sulfate 0.20 g/L. In addition, the antifungal activity of P. polymyxa IN937a was also tested in this study. The preliminary results of in vitro antifungal activity indicated that P. polymyxa IN937a had a good inhibition on the growth of two phytopathogenic fungal strains Sclerotium rolfsii and Rhizoctonia solani. These results could be used for further research on the fermentation of P. polymyxa IN937a on a pilot scale to obtain the optimal number of spores for use in the development of biological crop protection products.
- Ấn phẩmANTIMICROBIAL POTENTIAL OF STREPTOMYCES ISOLATES FROM CON DAO NATIONAL FOREST(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 01-2022) Le, Pham Nguyet Thuong; Truong, Hoa Thien; Tong, Thi HangStreptomyces are considered the most potential microbes with the ability to produce antimicrobial and anticancer agents. These bacteria are found mostly in soil across the globe and play a pivotal role in material recycling processes. Isolation of Streptomyces in Vietnam has been conducted for years. However, there are few investigations on protected regions which have very little exchanging activities. This project aims to explore the resource for antimicrobial activity of Streptomyces isolated from Con Son Island (Con Dao). Eighteen soil samples were collected in different surface lands in Con Dao and cleaned prior to culturing and isolation. Twenty-five isolates (named from C1 to C25) were obtained from ISP4 agar plates and stored in glycerol 30% at -80oC. Liquid cultures were established in 3 different media (ISP4, Gause I and TSB) for all isolates. Broth collected from cultures at stationary phase was extracted with ethyl acetate at the ratio 1:1 (v/v) followed with antimicrobial tests against three bacterial and two fungal microorganisms (S. aureus, B. subtilis, E. coli, C. albicans, A. parasiticus). Sixty percent of isolates show activity against at least one microbe. The isolates C13, C22 and C24 showed the ability to inhibit both bacteria and fungi tested. Results from C13 and C22 express remarkable activity to prevent the growth of B. subtilis and C. albicans, respectively. This study suggests the potential of Streptomyces from the investigated area and recommends more optimization of the culture condition as well as extractions with other solvents to get better antimicrobial activities.
- Ấn phẩmGROWTH ASSESSMENT OF VARIOUS FORMULAE OF ESSENTIAL MINERALS AND TRACE ELEMENTS ON WHITELEG SHRIMP AT DIFFERENT SALINITIES(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 01-2022) Do, Viet Phuong; Nguyen, Thao Suong; Chau, Tai Tao; Nguyen, TK Loan; Touchet, Audric; Gutter, Gaetan; Mahl, Philippe; Phan, HoangWhiteleg shrimp (Litopenaeus vannamei) is now the main species cultivated in various geographic locations. Whiteleg shrimp have a wide range of salinity tolerance, but a matter of deficiency of minerals and trace elements need to be taken care of when shrimp are grown in low saline area. It may induce higher mortality and slower growth performances of shrimp. Two stages of shrimp juveniles were subsequently tested with different formulae of a liquid nutraceutical of essential minerals and trace elements. Each stage was performed in a 28-day trial with follow-up parameters of shrimp growth indices and environmental changes throughout the tests. The use of mineral supplementation in whiteleg shrimp diet in low salinity area significantly increased growth performance, survival rate and color intensity. This study has demonstrated the efficacy of a liquid form of mineral supplement product administered by top-coating onto the feed to shrimp during 4 weeks of grow-out at 5‰ salinity, but the application was dependent on formula and dose. Further research on application regime using this liquid mineral product should be performed to optimize a protocol for a whole culture crop as different stages of shrimp may require different supplementation doses.
- Ấn phẩmSimulation of impact of organic and nutrient pollutants from Nghi Son economic zone on Thanh Hoa coastal waters, North Centre Vietnam(Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 0201-03) Nguyen, Minh Hai; Vu, Duy VinhNghi Son is an economic zone oriented to developing heavy industry and petrochemicals and has potential to become the most substantial economic zone in the North Central region. The zone is also one of the potential waste sources polluting Thanh Hoa coastal waters. Numeric modeling using Delft3D software package with different scenarios: Current status scenario, controlled discharge scenario, and incident scenario was developed to simulate states of some pollutants of organics and nutrients from the zone to Thanh Hoa coastal waters in different periods. The simulation results show that under controlled discharge (increasing pollutant concentration with the control of waste discharge), the concentration of pollutants was increasing and high around discharging points. In contrast, in incident case from the zone, pollutant concentrations increase markedly both in the magnitude and in the impact range to surrounding areas. When an accident happens, the influence scale will be expanded significantly, especially in the rainy season.
- Ấn phẩmNghiên cứu xây dựng phương án dự báo lũ Tiểu mãn dựa vào hình thế thời tiết gây mưa lũ khu vực Trung Trung Bộ(Tổng cục Khí tượng Thủy văn, 2020-12) Phạm, Văn Chiến; Đỗ, Thị Phương Linh; Nguyễn, Thế Long; Nguyễn, Minh Tuấn; Nguyễn, Văn KhánhBài báo này là kết quả nghiên cứu xây dựng phương án dự báo lũ Tiểu mãn dựa vào phân loại các hình thế thời tiết gây lũ và phân tích quan hệ mưa lũ, bộ số liệu đưa vào xây dựng phương án từ năm 1978 đến 2019 cho kết quá khá tốt. Kết quả xây dựng phương án sẽ hỗ trợ cho các dự báo viên trong quá trình tác nghiệp dự báo khả năng xuất hiện lũ Tiểu mãn khu vực Trung Trung Bộ và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Đây là một phương án hiệu quả phục vụ tốt cho công tác dự báo nghiệp vụ trong tương lai.
- Ấn phẩmGiám sát biến thiên mức độ phú dưỡng của hồ Hoàn Kiếm dựa vào hàm lượng Chlorophyll–a tính toán từ ảnh Sentinel–2A(Tổng cục Khí tượng Thủy văn, 2020-12) Nguyễn, Thiên Phương Thảo; Phạm, Quang Vinh; Nguyễn, Thị Thu Hà; Nguyễn, Thùy LinhNghiên cứu này nhằm giám sát sự dao động của chỉ số dinh dưỡng (trophic state index: TSI) của nước hồ Hoàn Kiếm dựa vào hàm lượng chlorophyll–a (Chla) tính toán từ ảnh vệ tinh Sentinel 2A (S2A) thu nhận được từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020. Kết quả khảo sát từ 50 điểm đo tại hồ Hoàn Kiếm vào 5 thời điểm khác biệt trong năm cho thấy hàm lượng Chla của nước hồ dao động trong khoảng 114,8 µg/L đến hơn 700 µg/L và có tương quan cao với tỷ số phản xạ mặt nước ứng với kênh cận hồng ngoại (B5) trên kênh đỏ (B4) của ảnh S2A (R2 = 0,82) do đó có thể tính toán từ tỷ số này bằng phương trình hàm mũ với sai số trung bình đã kiểm chứng là 29,4 µg/L. Giá trị TSI(Chla) tính toán từ ảnh và thực tế cho giá trị khá tương đồng, dao động ở mức từ 77 đến 95 tương ứng với mức siêu phú dưỡng, cho thấy tiềm năng cao của việc giám sát mức độ phú dưỡng của hồ từ ảnh S2A. Theo không gian, giá trị TSI(Chla) thay đổi không nhiều, thường tập trung ở mức cao xung quanh khu vực bờ phía bắc và phía nam. Giá trị TSI(Chla) tính toán từ ảnh S2A có sự thay đổi nhẹ theo mùa, cao vào đầu hè (tháng 6) và đầu đông (tháng 10, 12). Để giám sát được chi tiết hơn biến thiên giá trị TSI(Chla) cần khai thác thêm các vệ tinh khác như Landsat 8 và Sentinel 2B để tăng tần suất giám sát.
- Ấn phẩmỨng dụng mô hình đa chỉ tiêu nhằm đánh giá nguy cơ lũ quét trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu. Trường hợp nghiên cứu cụ thể: miền núi Tây Bắc–Việt Nam(Tổng cục Khí tượng Thủy văn, 2020-12) Dương, Thị Lợi; Đặng, Phương LanLũ quét là một dạng thiên tai điển hình tại vùng núi Tây Bắc của Việt Nam, tuy nhiên việc dự báo gặp nhiều khó khăn do tính chất phức tạp của nó và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu. Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định những khu vực có nguy cơ lũ quét cao dựa vào đặc điểm thực tế của khu vực nghiên cứu bằng mô hình đa chỉ tiêu. Độ dốc, hiện trạng sử dụng đất, thành phần cơ giới đất và lượng mưa là các tiêu chí được lựa chọn và đánh trọng số tương ứng với mức độ ảnh hưởng của nó đến tiềm năng lũ quét tại khu vực nghiên cứu. Phương pháp phân tích thứ bậc AHP là phương pháp phân tích đa chỉ tiêu được dùng để xác định mối tương quan so sánh giữa các tiêu chí, từ đó xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ lũ quét. Theo đó, khu vực nghiên cứu được phân thành năm cấp: khu vực có nguy cơ rất thấp, khu vực có nguy cơ thấp, khu vực có nguy cơ trung bình, khu vực có nguy cơ cao và khu vực có nguy cơ rất cao. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, lũ quét có nguy cơ hình thành cao và rất cao ở phía bắc và đông bắc của khu vực nghiên cứu chiếm trên 15 % diện tích lãnh thổ, trong đó phân bố chính ở tỉnh Lai Châu và phía đông bắc tỉnh Sơn La. Kết quả nghiên cứu là tài liệu đáng tin cậy cho công tác phòng chống thiên tai và quản lý tài nguyên môi trường vùng Tây Bắc.
- Ấn phẩmĐánh giá sơ bộ tiềm năng năng lượng thuỷ triều tại khu vực biển Cần Giờ–Tp. Hồ Chí Minh(Tổng cục Khí tượng Thủy văn, 2020-12) Đinh, Ngọc Huy; Nguyễn, Quốc TrinhDo nhu cầu sử dụng điện càng ngày càng gia tăng, nhiệt điện và thủy điện đang dần thể hiện sự hạn chế, nên vấn đề phát triển năng lượng tái tạo bắt đầu được chú trọng hơn trước đây. Trong bài báo này, chúng tôi lựa chọn vùng biển Cần Giờ của Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) để đánh giá tiềm năng năng lượng thủy triều, do lợi thế gần vùng kinh tế lớn của cả nước và độ lớn thủy triều khoảng 3–4 m phù hợp phát triển điện triều. Bài báo này trình bày phương pháp nghiên cứu và đánh giá về tiềm năng điện triều bằng 2 phương án là đập thủy triều và năng lượng dòng triều. Các kết quả tính toán ban đầu xác định đối với các phương án khai thác điện bằng đập thủy triều công suất lớn nhất khoảng 224 MWh và tổng điện năng khoảng xấp xỉ 1,14 tỷ kWh/năm. Và đối với năng lượng dòng triều tại các vị trí cửa sông Soài Rạp, Đồng Tranh, vịnh Gành Rái có tổng công suất khoảng 4,98–8,19 MW/m2 với vận tốc dòng triều trung bình và khoảng 125–292 MW/m2 với vận tốc dòng triều cực đại. Kết quả nghiên cứu có thể phục vụ làm tài liệu tham khảo, làm tiền đề cho các nghiên cứu chi tiết cụ thể cho các công tác đánh giá chuyên sâu hơn tiềm năng năng lượng tái tạo trong tương lai trên vùng biển Tp.HCM nói riêng và các vùng biển khác nói chung.
- Ấn phẩmGiám sát biến thiên mức độ phú dưỡng của hồ Hoàn Kiếm dựa vào hàm lượng Chlorophyll–a tính toán từ ảnh Sentinel–2A(Tổng cục Khí tượng Thủy văn, 2020-12) Nguyễn, Tiến ThànhNghiên cứu này nhằm giám sát sự dao động của chỉ số dinh dưỡng (trophic state index: TSI) của nước hồ Hoàn Kiếm dựa vào hàm lượng chlorophyll–a (Chla) tính toán từ ảnh vệ tinh Sentinel 2A (S2A) thu nhận được từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020. Kết quả khảo sát từ 50 điểm đo tại hồ Hoàn Kiếm vào 5 thời điểm khác biệt trong năm cho thấy hàm lượng Chla của nước hồ dao động trong khoảng 114,8 µg/L đến hơn 700 µg/L và có tương quan cao với tỷ số phản xạ mặt nước ứng với kênh cận hồng ngoại (B5) trên kênh đỏ (B4) của ảnh S2A (R2 = 0,82) do đó có thể tính toán từ tỷ số này bằng phương trình hàm mũ với sai số trung bình đã kiểm chứng là 29,4 µg/L. Giá trị TSI(Chla) tính toán từ ảnh và thực tế cho giá trị khá tương đồng, dao động ở mức từ 77 đến 95 tương ứng với mức siêu phú dưỡng, cho thấy tiềm năng cao của việc giám sát mức độ phú dưỡng của hồ từ ảnh S2A. Theo không gian, giá trị TSI(Chla) thay đổi không nhiều, thường tập trung ở mức cao xung quanh khu vực bờ phía bắc và phía nam. Giá trị TSI(Chla) tính toán từ ảnh S2A có sự thay đổi nhẹ theo mùa, cao vào đầu hè (tháng 6) và đầu đông (tháng 10, 12). Để giám sát được chi tiết hơn biến thiên giá trị TSI(Chla) cần khai thác thêm các vệ tinh khác như Landsat 8 và Sentinel 2B để tăng tần suất giám sát.
- Ấn phẩmĐánh giá mối quan hệ của các chỉ số khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ gia đình cận nghèo của thành phố Đà Nẵng(Tổng cục Khí tượng Thủy văn, 2020-12) Nguyễn, Bùi Phong; Mai, Trọng NhuậnMục tiêu của bài báo là đánh giá mối quan hệ của các chỉ số khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (khả năng thích ứng) với khả năng thích ứng của hộ gia đình cận nghèo của thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (Exploratory Factor Analysis–EFA), phân tích nhân tố khám phá (Confirmatory Factor Analysis–CFA), mô hình cấu trúc (Structural Equation Modeling–SEM) và bộ chỉ số khả năng thích ứng của thành phố Đà Nẵng để đánh giá mối quan hệ này. Bộ chỉ số khả năng thích ứng bao gồm 17 chỉ số của các thành phần tài chính, tự nhiên, xã hội, con người, cơ sở hạ tầng. Kết quả chỉ ra rằng khả năng thích ứng của hộ gia cận nghèo tương quan chặt chẽ với thành phần tài chính và nguồn nhân lực. Như vậy, để nâng cao khả năng thích ứng của hộ gia đình cận nghèo cần tăng cường nâng cao nhận thức, kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu, thúc đẩy các hoạt động đa dạng sinh kế và nâng cao thu nhập cho hộ gia cận nghèo.
- Ấn phẩmKết quả bước đầu dự báo tổ hợp sóng biển tại Việt Nam(Tổng cục Khí tượng Thủy văn, 2020-12) Bùi, Mạnh Hà; Nguyễn, Bá Thủy; Đỗ, Đình ChiếnThông tin dự báo xác suất ứng với các khoảng độ cao sóng rất có ý nghĩa trong công tác tìm kiếm cứu nạn cũng như các hoạt động trên biển và tại vùng ven biển. Khi sử dụng hệ thống dự báo tổ hợp sóng biển chúng ta có thể đưa ra những thông tin dự báo độ cao sóng trung bình tổ hợp, cực trị độ cao sóng và xác suất ứng với các khoảng độ cao sóng khác nhau. Trong nghiên cứu này, hiệu chỉnh mô hình SWAN tính sóng trong gió mùa và trong bão Kaemi (2000) được thực hiện dựa trên việc điều chỉnh hệ số ma sát đáy tính theo công thức JONSWAP (Cfjon) để lựa chọn hệ số ma sát đáy phù hợp. Kết quả kiểm nghiệm mô hình tính sóng trong điều kiện thời tiết bình thường và trong gió mùa cho thấy độ cao sóng hiệu dụng tính toán xu hướng thiên cao so với quan trắc. Sai số tuyệt đối trung bình khi tính sóng trong gió mùa tây nam là 0,38m và trong gió mùa đông bắc là 0,52m. Biên độ trung bình của sai số tính toán sóng trong gió mùa dao động từ 0,55–0,76m và trong thời tiết tốt là 0,49m. Nhằm mục tiêu áp dụng trong nghiệp vụ tại Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, quy trình vận hành hệ thống dự báo tổ hợp sóng biển đã được xây dựng. Những kết quả bước đầu thử nghiệm hệ thống dự báo tổ hợp sóng biển trong bão Damrey tháng 12/2017 đổ bộ vào Nam Trung Bộ với trường gió từ hệ thống dự báo tổ hợp 50 thành phần của Trung tâm Dự báo thời tiết hạn vừa Châu Âu (European Centre for Medium–Range Weather Forecasts, ECMWF)được thực hiện.
- Ấn phẩmĐánh giá sự phân bố nồng độ bụi PM2.5 tại khu vực TP. HCM bằng công nghệ viễn thám–một số kết quả ban đầu(Tổng cục Khí tượng Thủy văn, 2020-12) Trần, Quang Trà; Nguyễn, Phúc Hiếu; Đào, Nguyên KhôiTrong thời gian gần đây, ô nhiễm bụi mịn (PM2.5) đã trở thành một trong những vấn đề môi trường đáng quan tâm nhất tại các khu đô thị ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh được biết đến là một trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, chiếm khoảng 23% GDP của cả nước (2019), đã chịu ảnh hưởng rất lớn của ô nhiễm không khí do sự phát triển công nghiệp và phát thải từ hoạt động giao thông. Mục tiêu của nghiên cứu này là ước tính sự phân bố không gian nồng độ bụi PM2.5 trên địa bàn thành phố tại một số thời điểm trong giai đoạn 2015–2020 bằng việc sử dụng dữ liệu LANDSAT 8 OLI/TIRS. Trong nghiên cứu này, giá trị phản xạ khí quyển từ ảnh vệ tinh và dữ liệu quan trắc bụi PM2.5 từ mặt đất được sử dụng để thiết lập mô hình tương quan hồi quy để tính toán nồng độ bụi PM2.5 cho khu vực nghiên cứu. Mô hình đã cho ra kết quả tốt trong việc tính toán nồng độ bụi PM2.5 với R2 > 0,79 và sai số RMSE = 2,3745 µg/m3. Trên cơ sở đó, nồng độ bụi PM2.5 được thiết lập để đánh giá đặc điểm phân bố của chúng và nhận diện các khu vực có mức độ ô nhiễm cao tại các thời điểm ghi nhận được. Kết quả này sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý chất lượng không khí tại địa phương.
- Ấn phẩmStudy of phospholipid molecular species of the green seaweed Halimeda incrassata Lamx. from Truong Sa islands, Vietnam(Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021) Pham, Thu Hue; Nguyen, Van Tuyen Anh; Pham, Quoc Long; Le, Tat ThanhIn this report, by a high performance liquid chromatography (HPLC) - high resolution mass spectrometry (HRMS) method, 7 molecular species of phospholipid in the polar lipid class were identified including phosphatidylinositol (PI) and phosphatidylglycerol (PG). The PI 32:0 (16:0/16:0) and PG 34:3 (16:1/18:2) molecular species have the highest content. PI molecular species are mainly formed by saturated fatty acids (16:0, 18:0) and only one polyunsaturated fatty acids C20:4, while PG species are formed by unsaturated fatty acids (16:1, 18:2 and 18:3) and only one saturated fatty acid C16:0.
- Ấn phẩmNHÂN GIỐNG VÔ TÍNH LAN HÀI ĐÀ LẠT (PAPHIOPEDILUM X DALATENSE)(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Trần, Thái Vinh; Đặng, Thị Thắm; H’ Yon, Niê BingLan Hài Đà Lạt (Paphiopedilum x dalatense) là một loài hiếm, cho hoa to với màu sắc biến đổi và lá có những đường vằn với những đốm khảm đẹp khó thấy. Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của hai nhóm chất hữu cơ khác nhau: Nhóm khoai tây, chuối và nhóm tryptone, nấm men, peptone lên quá trình sinh trưởng và phát triển của chồi lan Hài Đà Lạt; ảnh hưởng của NAA và acid humic đến sự ra rễ in vitro đã được khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường thích hợp cho sự hình thành và phát triển chồi cây là môi trường nuôi cấy MS bổ sung 100 g/L chuối và 100 g/L khoai tây (5,4 chồi/mẫu, 18,8 mm/chồi, 4,5 lá/chồi, 100% chồi sống) hoặc môi trường nuôi cấy MS bổ sung 1 g/L peptone (4,19 chồi/mẫu, 15 mm/chồi, 4 lá/chồi và 92% chồi sống). Môi trường thích hợp cho sự tạo rễ in vitro lan Hài Đà Lạt là môi trường nuôi cấy 1⁄2 MS bổ sung 1 mg/L NAA (5,2 lá/mẫu, 4,6 rễ/chồi, 3,56 cm/rễ, 100% chồi hình thành rễ). Tỷ lệ ra rễ đạt 100% trên môi trường nuôi cấy 1⁄2 MS bổ sung 2 mg/L acid humic và số rễ, chiều dài rễ đạt cao nhất (5 rễ/chồi, 5,5 cm/rễ) trên môi trường này. Kết quả nghiên cứu nhân giống in vitro lan Hài Đà Lạt góp phần bảo tồn và phát triển bền vững cũng như hướng tới việc nhân nhanh cây giống khỏe mạnh phục vụ thương mại hóa loài lan Hài quý.
- Ấn phẩmPHÁT HIỆN ĐỘT BIẾN GEN WASP TRÊN BỆNH NHÂN MẮC HỘI CHỨNG WISKOTT-ALDRICH(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Lương, Thị Lan Anh; Nguyễn, Thị Thanh Hoa; Nguyễn, Hải Hà; Nguyễn, Đăng TônHội chứng Wiskott-Aldrich (WAS) là một bệnh hiếm gặp gây suy giảm miễn dӏch nguyên phát liên kết với nhiễm sắc thể X, đặc trưng bởi sự giảm tiểu cầu và tiểu cầu kích thước nhỏ, bệnh chàm, tăng các nguy cơ ác tính,nhiễm trùng tái phát và nhiễm virus. Bệnh nhân có những triệu chứng lâm sàng nghiêm trӑng có thể dẫn đến tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trӏ sớm. Hội chứng WAS xảy ra do có sụ đột biến hoặc bӏ mất gen trên nhiễm sắc thể X là Wiskott-Aldrich Syndrome Protein (WASP), nằm trên nhánh ngắn của NST X tại vӏ trí Xp11.22–p11.23. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác đӏnh các đột biến có trên gen WASP ở một ố gia đình có con mắc WAS. Toàn bộ vùng gen mã hóa WASP và các vùng biên intron-exon cӫa gen đưӧc giải trình tự bằng phương pháp Sanger. Hai đột biến trên gen WASP đã được phát hiện ở hai trẻ bӏ WAS gồm một đột biến c.702insAC gây lệch khung đӑc từ amino acid 236 và tạo mã kết thúc tại vӏ trí codon 262 đuọc xác định ở bệnh nhân WA007 và một đột biến c.91G>A gây biến đổi acid glutamic thành lysine tại vӏ trí codon 31 đưӧc xác đӏnh ở bệnh nhân WA010. Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu của các đột biến trong gen WASP ở bệnh nhân WAS Việt Nam. Sàng lӑc đột biến trên gen WASP có thể giúp xác định nguyên nhân di truyền và góp phần quan trӑng trong chẩn đoán sӟm, quản lý lâm sàng và tư vấn di truyền cho bệnh nhân và các gia đình bị ảnh hưởng.
- Ấn phẩmKHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG DỊ ỨNG CỦA PICEATANNOL TỪ QUẢ SIM (RHODOMYRTUS TOMENTOSA)(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Võ, Thanh Sang; Nguyễn, Hoàng Nhật Minh; Ngô, Xuân QuảngPiceatannol được biết đến như là một hoạt chất có nhiều hoạt tính sinh học như kháng ung thư, kháng tiểu đường, kháng oxi hóa, kháng viêm và kháng béo phì. Trong nghiên cứu này, hoạt tính kháng dị ứng của piceatannol từ quả sim ở Phú Quốc được khảo sát thông qua mô hình thí nghiệm dưỡng bào RBL-2H3. Piceatannol được tách chiết thông qua các hệ dung môi khác nhau trên hệ thống sắc ký cột silica gel và phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao và được nhận diện dựa theo phương pháp phổ khối lượng và cộng hưởng từ hạt nhân. Quá trình thoát bọng của dưỡng bào được khảo sát thông qua đo hàm lượng β-hexsosaminidase giải phóng ra trong môi trường nuôi cấy. Hình thái tế bào được quan sát và mô tả thông qua kính hiển vi soi ngược. Độc tính của chất thử nghiệm được kiểm tra thông qua phương pháp MTT ((3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyl tetrazolium bromide). Kết quả khảo sát cho thấy piceatannol có thể ức chế đáng kể lên quá trình thoát bọng và làm giảm sự giải phóng của β-hexosaminidase xuống còn 44% tại nồng độ 40 μM. Thêm vào đó, piceatannol có thể bảo vệ tế bào chống lại sự thay đổi hình thái do tác nhân hoạt hóa calcium ionophore gây ra. Đáng chú ý, piceatannol không gây độc tính đáng kể lên tế bào RBL-2H3 tại dãy nồng độ khảo sát 10-40 μM. Vì vậy, piceatannol từ quả sim rừng Phú Quốc có thể được xem như là một tác nhân kháng dị ứng tiềm năng.
- Ấn phẩmCẢI THIỆN KHẢ NĂNG RA RỄ IN VITRO VÀ THÍCH NGHI Ở GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM CỦA CÂY ARTICHOKE “GIỐNG TÍM” VÀ CÂY ARTICHOKE “GIỐNG XANH”(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Hoàng, Đắc Khải; Nguyễn, Thị Như Mai; Hoàng, Lê Lan AnhArtichoke (Cynara scolymus L.), cây dược liệu có giá trị kinh tế, chứa hàm lượng các hợp chất phenolic, đặc biệt là cynarine có vai trò quan trọng trong việc phòng chống ung thư, bệnh tim mạch, loãng xương, đái tháo đường, thoái hóa thần kinh... Hiện nay, vi nhân giống Artichoke đã đạt một số thành tựu. Tuy nhiên, hiệu quả ra rễ cũng như chất lượng cây giống in vitro vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Trong nghiên cứu này, cải thiện chất lượng cây giống Artichoke liên quan đến chất lượng chồi và loại giá thể phù hợp trong giai đoạn ra rễ in vitro đã được nghiên cứu trên Artichoke “giống Tím” (VA) và Artichoke “giống Xanh” (GA). Kết quả nghiên cứu cho thấy, chồi (1,5 cm) nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/L KIN là thích hợp nhất cho giai đoạn nhân nhanh chồi VA với các chỉ tiêu như số chồi/cụm (3,67 chồi), số chồi ≥ 2 cm (3 chồi); trong khi đó, 1,0 mg/L BA thích hợp cho quá trình nhân chồi GA (5,33 chồi; 5,00 chồi; tương ứng) sau 4 tuần nuôi cấy. Ngoài ra, hiệu quả ra rễ in vitro gia tăng khi sử dụng 8 g/L agar thương mại đối với VA và 3 g/L gelrite đối với GA. Bên cạnh đó, hệ thống nuôi cấy túi nylon (120 mm × 250 mm) có tiềm năng trong sản suất cây giống (15 cây/bịch) và có thể ứng dụng trong sản xuất cây giống ở quy mô lớn. Ngoài ra, những cây con VA và GA có nguồn gốc nuôi cấy in vitro cho khả năng thích nghi, sinh trưởng, phát triển tốt sau 8, 12 và 20 tuần ở giai đoạn vườn ươm.
- Ấn phẩmỨNG DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHỈNH SỬA HỆ GEN Ở THỰC VẬT(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Nguyễn, Đức ThànhCông nghệ chỉnh sửa hệ gen là các kỹ thuật sửa đổi gen như gây đột biến có mục tiêu hoặc chèn/xóa/thay thế tại các vị trí cụ thể trong hệ gen của các sinh vật sống. Chỉnh sửa hệ gen dựa vào việc tạo ra sự đứt sợi đôi DNA ở vị trí chuyên biệt và việc sửa chữa DNA thông qua kết nối đầu cuối không tương đồng hoặc sửa trực tiếp tương đồng. Sự phát triển các enzyme cắt trình tự chuyên biệt DNA (sequence-specific nuclease, SSN) đã cho phép chỉnh sửa chính xác gen mục tiêu. Những SSN này bao gồm: các siêu enzyme cắt DNA (meganuclease, MN), enzyme cắt DNA ngón tay kẽm (zinc finger nuclease, ZFN), các enzyme cắt DNA giống yếu tố hoạt hóa phiên mã (transcription activator- like effector nuclease, TALEN) và các enzyme cắt DNA gắn vào nhóm các trình tự lặp lại ngắn đọc xuôi ngược đều giống như nhau (clustered regularly interspaced short palindromic repeats/Cas, CRISPR/Cas) bao gồm CRISPR/Cas9 (từ vi khuẩn Streptococcus pyogenes) và CRISPR/Cpf1 (từ vi khuẩn Prevotella và Francisella1). Đây là các công cụ chỉnh sửa gen được sử dụng để tạo sự đứt sợi đôi DNA tại vị trí cụ thể của hệ gen. Gần đây, hệ thống chỉnh sửa base (base editing, BE) và chỉnh sửa prime (prime editing, PE) cũng đã được thông báo. Bài tổng quan này trình bày những vấn đề cơ bản của các công cụ này và ứng dụng của chúng trong chỉnh sửa gen ở thực vật, đặc biệt là cung cấp các thông tin cập nhật nhất về ứng dụng trong cải tiến giống cây trồng.
- Ấn phẩmPHÁT TRIỂN BIOSENSOR TỪ TẾ BÀO SACCHAROMYCES CEREVISIAE Y486 MANG PHỨC HỢP CPR-CYP3A4 VÀ DIN7-GFP ĐỂ THỬ NGHIỆM PHÁT HIỆN HỢP CHẤT TIỀN UNG THƯ(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Nguyễn, Thị Thu Huyền; Bùi, Văn NgọcTrên thế giới và ở Việt Nam, mỗi ngày đều có một lượng lớn các chất độc hại từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, sản xuất thực phẩm và dịch vụ chăm sóc sức khỏe thải ra môi trường. Trong đó, nhiều hợp chất ngoại sinh bản chất là chất vô hại và không gây ung thư (tiền ung thư), nhưng khi vào cơ thể được hệ enzyme cytochrome P450 monoxygenase (CYP) chuyển hoá thành hợp chất nguy hại gây đột biến gen và có khả năng gây ung thư. Do đó, việc phát triển công cụ phân tích sinh học để nhanh chóng xác định các hợp chất tiền ung thư sẽ có ý nghĩa rất lớn trong công tác an toàn thực phẩm và kiểm soát môi trường. Mục tiêu của nghiên cứu này là tạo biosensor từ chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae Y486 được đồng biến nạp hai phức hợp promoter–gen là CYP3A4– CPR và DIN7–GFP. Kết quả cho thấy, protein tái tổ hợp đều được biểu hiện tốt ở tất cả các chủng biến nạp. Khối lượng phân tử của CPR và CYP3A4 tái tổ hợp lần lượt là 75 kDa và 56 kDa. Enzyme CYP3A4 chỉ thể hiện hoạt tính chuyển hoá khi được biểu hiện cùng với CPR. Các hằng số động học Km, Vmax, Vmax/Km của phức hệ enzyme CPR–CYP3A4 lần lượt tương ứng là 3,2 μM, 3,5 pmol/pmol CYP/min, 1,1 μL/pmol CYP/min. Khi đồng biểu hiện phức hợp enzyme này với phức hợp DIN7 GFP trong tế bào chủng Y486 đã xác định được aflatoxin B1 trong khoảng 0,1–0,4 μM và benzo(c)phenanthrene trong khoảng 10-40 μM. Tuy nhiên, biosensor này không phát hiện được sự có mặt của các hợp chất tiền ung thư khác như, N-Nitrosodimethylamine ở tất cả các nồng độ khảo sát. Đây là kết quả bước đầu cho việc tiếp tục phát triển các dạng biosensor để xác định nhiều hợp chất tiền ung thư khác trong tự nhiên thông qua việc thiết kế lại hệ biểu hiện hay thay thế các CYPs và promoter cảm ứng đặc hiệu khác nhau.
- Ấn phẩmBIỂU HIỆN MỘT SỐ GEN ĐIỀU HÒA MIỄN DỊCH Ở BỆNH BẠCH CẦU TỦY MẠN(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Nguyễn, Hoàng Giang; Nguyễn, Thanh Huyền; Nguyễn, Thị XuânBệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML) là bệnh ung thư máu có sự tăng trưởng bất thường của các tế bào bạch cầu dòng tủy ở tất cả các giai đoạn biệt hóa. Hơn 90% các trường hợp bị bệnh là do đột biến chuyển đoạn thuận nghịch hai gen BCR và ABL trên nhiễm sắc thể t (9; 22) dẫn đến hình thành nhiễm sắc thể bất thường Philadelphia. Protein BCR-ABL biểu hiện hoạt động tyrosine kinase bất thường làm thay đổi hoạt động của các tín hiệu STAT và NF-κB gây ra sự tăng sinh không kiểm soát của tế bào dòng tủy. Ba gen CTLA-4, PD-1 và LAG3 có chức năng kiểm soát miễn dịch bằng cơ chế ức chế hoạt động của tế bào T hỗ trợ. Gen klotho có chức năng chống viêm và ung thư. Các gen tín hiệu STAT có vai trò điều hòa chức năng của tế bào thông qua sự phosphoryl hóa và gen IκB-α điều hòa thông qua sự giáng hóa trong tế bào ung thư. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành xác định biểu hiện mRNA của các gen này trên tế bào bạch cầu của bệnh nhân CML bằng kỹ thuật realtime-PCR. Kết quả cho thấy có sự tăng rõ rệt biểu hiện của các gen tín hiệu STAT- 1 và STAT-6 và biểu hiện của gen LAG3 giảm đi ở bệnh nhân CML. Biểu hiện tăng bất thường của gen STAT1 và STAT6 cho thấy vai trò quan trọng của các gen tín hiệu này điều hòa hoạt động của tế bào miễn dịch dẫn tới sự hình thành và phát triển bệnh CML và có thể là các marker quan trọng vàtiềm năng trong chẩn đoán phát hiện sớm ung thư CML.
- Ấn phẩmNGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO VÀ SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN EX VITRO CÂY HOA CÚC CHI (CHRYSANTHEMUM INDICUM L.) TẠI ĐÀ LẠT - LÂM ĐỒNG(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Phan, Xuân Huyên; Trương, Ngọc Thảo Vy; Nguyễn, Thị Phượng HoàngCây hoa cúc chi (Chrysanthemum indicum L.) là một loại thảo dược quí và tốt cho sức khỏe của con người. Kết quả cho thấy môi trường MS bổ sung 25 g/L sucrose, 9 g/L agar, pH 5,8 là thích hợp nhất cho sự tái sinh và sinh trưởng chồi (chiều cao chồi đạt 2,41 - 2,47 cm, 1 chồi/mẫu). Môi trường MS bổ sung các nồng độ BA (0,1, 0,5, 1, 1,5, 2 mg/L), Kinetin (0,1, 0,5, 1, 1,5, 2 mg/L) và TDZ (0,1, 0,5, 1 mg/L) không phù hợp cho sự tái sinh và sinh trưởng chồi. Sự tái sinh và sinh trưởng chồi trên môi trường có bổ sung 1 g/L than hoạt tính tốt hơn (chiều cao cây 3,45 cm) môi trường không bổ sung than hoạt tính (chiều cao cây 2,46 cm). Môi trường MS bổ sung 0, 0,1, 0,5, 1 mg/L IBA, 25 g/L sucrose, 9 g/L agar, pH 5,8 đều phù hợp cho sự tạo rễ in vitro, tỷ lệ tạo rễ đạt 100%. Vụn xơ dừa là giá thể thích hợp nhất chuyển cây hoa cúc chi cấy mô ra ngoài vườn ươm, tỷ lệ sống đạt 100% và cây sinh trưởng tốt. Tưới phân Nitrophoska là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng phát triển cây hoa cúc chi trồng trên giá thể vụn xơ dừa trong điều kiện nhà kính (chiều cao cây 61,70 cm, 100,80 hoa/cây, đường kính hoa 1,68 cm, khối lượng tươi 0,376 g/hoa). Kết quả cũng cho thấy, cây hoa cúc chi sinh trưởng phát triển tốt ở khí hậu Đà Lạt - Lâm Đồng, ra hoa quanh năm và có thể sử dụng cây giống có nguồn gốc từ nuôi cấy mô để trồng trong nhà kính.
- Ấn phẩmPHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH TRÌNH TỰ VÀ ĐÁNH GIÁ BIỂU HIỆN CỦA GEN MÃ HÓA ACETOACETYL-CoA THIOLASE (AACT) Ở SÂM NGỌC LINH (PANAX VIETNAMENSIS HA ET GRUSHV.)(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Vũ, Thị Trinh; Lưu, Hàn Ly; Huỳnh, Thị Thu Huệ; Lê, Thị Thu HiềnSâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) thuộc chi Nhân sâm (Panax L.) là loài đặc hữu và nguồn gen đặc biệt quý hiếm của Việt Nam. Ginsenoside là một trong những thành phần chính quyết định giá trị quan trọng trong y dược của sâm Ngọc Linh và các loài khác thuộc chi Nhân sâm. Gen mã hóa acetoacetyl-CoA thiolase (AACT) ở sâm Ngọc Linh được xem là gen quan trọng tham gia vào con đường sinh tổng hợp ginsenoside. Trong nghiên cứu này, cDNA gen mã hóa AACT được phân lập từ sâm Ngọc Linh với vùng mang mã có kích thước 1224 bp, mã hóa cho 408 amino acid. Trình tự cDNA gen mã hóa AACT được công bố trên GenBank với mã số MZ272018, có sự tương đồng so với gen này ở loài Panax notoginseng KJ804173.1 là 99,08%. Tuy có một số điểm khác biệt trong trình tự cDNA gen mã hóa AACT ở sâm Ngọc Linh so với loài tham chiếu nhưng trình tự protein do gen mã hóa mang đầy đủ các đặc tính của AACT với các vị trí quan trọng liên quan tới hoạt tính protein đều được bảo toàn. Kết quả kiểm tra cấu trúc bậc I của protein trên InterPro cho thấy protein AACT ở sâm Ngọc Linh chứa ba vùng, bao gồm vùng thiolase-like (17-285), N-terminal (18- 276) và C-terminal (286-406). Phân tích cây phát sinh chủng loại sử dụng trình tự gen mã hóa AACT cho thấy mối quan hệ loài gần gũi của P. vietnamensis với hai loài P. notoginseng và Trachyspemum ammi. Mức độ biểu hiện khác nhau của gen mã hóa AACT ở mô lá và thân rễ tại các thời kỳ phát triển 1, 4, 6 và 11 năm tuổi của sâm Ngọc Linh đã được đánh giá sử dụng phương pháp real-time PCR. Gen mã hóa AACT được biểu hiện ở thân rễ mạnh hơn ở lá và mạnh nhất ở thân rễ sâm Ngọc Linh 11 năm tuổi. Kết quả thu được góp phần cung cấp thông tin về vai trò của yếu tố di truyền trong quá trình sinh tổng hợp ginsenoside ở sâm Ngọc Linh nói riêng và các loài thuộc chi Nhân sâm nói chung.
- Ấn phẩmSO SÁNH ĐẶC ĐIỂM HỆ GEN TY THỂ CỦA SÁN LÁ RUỘT NHỎ HAPLORCHIS TAICHUI VỚI METAGONIMUS YOKOGAWAI VÀ ĐƠN VỊ MÃ HÓA RIBOSOME VỚI H. PUMILIO (HỌ HETEROPHYIDAE)(Tạp chí Công nghệ Sinh học. Tập 19, Số 1, 2021-01) Lê, Thị Việt Hà; Nguyễn, Thị Khuê; Đồng, Văn Quyền; Lê, Thanh HòaSán lá ruột nhỏ Haplorchis taichui và H. pumilio thuộc họ Heterophyidae (Trematoda: Platyhelminthes), được nghiên cứu còn rất hạn chế, đặc biệt là chỉ thị phân tử hệ gen ty thể và đơn vị mã hóa ribosome. Chúng tôi thu nhận toàn bộ hệ gen ty thể (mtDNA) của loài H. taichui và toàn bộ phần mã hóa của đơn vị mã hóa ribosome (rTU hay rDNA) loài H. taichui và H. pumilio của Việt Nam. Dữ liệu nucleotide và amino acid được so sánh giữa H. taichui và Metagonimus yokogawai về các đặc điểm thành phần kiến tạo gen/hệ gen, đặc điểm sử dụng bộ mã hoặc nucleotide (độ lệch skew) và các cấu trúc lặp liền kề (TRU). Hệ gen ty thể của chủng Htai-QT3-VN có độ dài 15.120 bp và M. yokogawai (15.258 bp, Hàn Quốc, KC330755) chứa 36 gen, gồm 12 gen mã hóa protein (cox1, cox2, cox3, nad1, nad2, nad3, nad4L, nad4, nad5, nad6, atp6 và cob), 2 gen RNA ribosome (rRNA), 22 gen RNA vận chuyển (tRNA hay trn) và một vùng không mã hóa (NCR) giữa trnE và trnG, chia thành 2 tiểu vùng chứa 5 cấu trúc lặp (182-183 bp/cấutrúc). H. taichui (Việt Nam và Lào) sử dụng A = 19,56%, T = 39,71%, G = 28,34%, C = 12,39% (A+T là 59,27% và G+C là 40,73%) cho kiến tạo mtDNA, có giá trị độ lệch (skew/skewness) ở A+T là âm (–0,340) và G+C là dương (0,392); cho 12 gen mã hóa protein (PCG) tương tự; nhưng cho gen ribosome ty thể (MRG, gồm 16S/rrnLvà 12S/rrnS) với A+T ít hơn (57,22%) và với G+C nhiều hơn (42,78%). M. yokogawai có tỷ lệ sử dụng A+T thấp hơn (mtDNA/55,68%,PCG /55,96%, MRGs/54,15%) và G+C cao hơn so với loài H. taichui. H. taichui củaViệt Nam và Lào có 10.164 bp mã hóa cho 3.376 amino acid để kiến tạo 12 PCG với những bộ mã sử dụng nhiều nhất là Phenylalanine (Phe-TTT) và Leucine (Leu-TTG), những bộ mã ít nhất là Glutamine (Gln-CAA), Arginine (Arg-CGC), có thêm Thr-ACA/ACC ở M. yokogawai. Phần mã hóa đơn vị mã hóa ribosome (từ 5’ 18S đến 3’ 28S) của H. taichui (7.268 bp) và H. pumilio (7.416 bp) được xác định có 5 vùng gen gồm 18S rDNA, ITS1, 5.8S rDNA, ITS2 và 28S rDNA. Các gen 18S và 5.8S của cả 2 loài có độ dài như nhau (1.992 bp/18S, 160 bp/5.8S), gen 28S khác nhau (3.875 bp/H. taichui và 3.870 bp/H. pumilio). ITS1 ở H. taichui (797 bp) và ITS2 ở H. pumilio (280 bp) không chứa cấu trúc lặp, trong khi đó ITS1 ở H. pumilio (1.106 bp) chứa 5 cấu trúc lặp liền kề TRU gồm 136 bp cho 3 TRU và 116 bp cho 2 TRU và ITS2 ở H. taichui (444 bp) chứa 3 TRU (83–85 bp/cấu trúc).
- Ấn phẩmDỊCH CHIẾT ETHANOL TỪ LÁ CÂY ĐƠN MẶT TRỜI (EXCOECARIA COCHINCHINENSIS LOUR.) ỨC CHẾ SỰ DI TRÚ VÀ LÀM DỪNG CHU KỲ PHÂN CHIA CỦA TẾ BÀO UNG THƯ DẠ DÀY MKN45(Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-01) Nguyễn, Phú Hùng; Lê, Thị Thanh HươngTheo Globocan năm 2020, ung thư dạ dày là dạng ung thư phổ biến hàng thứ 5 trên thế giới. Việt Nam thuộc nhóm 20 quốc gia có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày cao nhất thế giới với 17.906 trường hợp mắc mới và 14.615 trường hợp tử vong năm 2020. Các sản phẩm dược liệu từ nhiên đang ngày càng phổ biến và được sử dụng trên toàn thế giới như một liệu pháp thay thế bổ sung. Đơn mặt trời (Excoecaria cochinchinensis Lour.) là loại thảo dược phân bố rộng rãi ở nhiều nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Những hiểu biết về tác dụng của cây Đơn mặt trời đối với bệnh ung thư còn rất hạn chế. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thu nhận dịch chiết ethanol từ lá của cây Đơn mặt trời và đánh giá tác động của nó lên tế bào ung thư dạ dày MKN45. Kết quả cho thấy, dịch chiết của cây Đơn mặt trời có khả năng ức chế mạnh sự tăng sinh của tế bào ung thư dạ dày MKN45. Tỷ lệ ức chế từ 40% - 80% so với đối chứng, với giá trị IC50 được xác định là 0,07 mg/mL. Mặt khác, dịch chiết từ cây Đơn mặt trời cũng làm giảm mức độ di trú của tế bào từ 20% - 70% so với đối chứng tùy theo nồng độ xử lý. Phân tích bằng Flow cytometry cũng đã chỉ ra rằng, dịch chiết của cây Đơn mặt trời đã làm dừng chu kỳ tế bào ở pha G2/M. Nghiên cứu này cho thấy, dịch chiết lá cây Đơn mặt trời có tiềm năng ức chế tế bào ung thư dạ dày.