CL - JDP (Journal Donation Project)
Đây là bộ sưu tập gồm những bài dịch từ các tạp chí ngoại văn chuyên ngành: Nhân học, Xã hội học, Kiến trúc và quy hoạch đô thị, Nghệ thuật đương đại, Môi trường,…được dịch từ các chuyên gia thuộc tổ chức JDP (Journal Donation Project) tại Việt Nam. Tài liệu trong bộ sưu tập được tham khảo tại website: http://www.newschool.edu/cps/subpage.aspx?id=53035
Duyệt CL - JDP (Journal Donation Project) theo Năm xuất bản
- Ấn phẩmThiết lập các ưu tiên cho việc thích ứng với biến đổi khí hậu = Setting of priorities for adapting to climate change(1997) Smith, Joel BAbstract: Những nỗ lực kiểm soát phát thải khí nhà kính có lẽ sẽ không thể loại bỏ hoàn toàn nguy cơ về biến đổi khí hậu. Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần xác định được những giải pháp ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu. Sự khó lường về thời gian, hướng biến đổi, mức độ của biến đổi khí hậu khu vực đang làm chậm lại việc đưa ra những biện pháp ứng phó kịp thời trước khi biến đổi khí hậu xảy ra. Vấn đề này có thể sẽ dẫn đến những kết quả không mong muốn một khi tác động của biến đổi khí hậu là không thể đảo ngược, hoặc các nguồn tài nguyên dài hạn bị ảnh hưởng, hoặc xu hướng biến đổi hiện tại làm cho sự thích trở nên kém hơn trong tương lai. Trong bối cảnh này, việc thay đổi về chính sách dự phòng trước những biến đổi của khí hậu là hợp lý. Những biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cần mềm dẻo hơn để có thể giải quyết được tác động của biến đổi khí hậu hoặc giúp cho một hệ thống có thể phục hồi nhanh chóng hơn trong các điều kiện khí hậu biến đổi. Thêm vào đó, những biện pháp này cần đem lại hiệu quả về mặt kinh tế sao cho lợi ích của chúng mang lại cũng tương xứng với chi phí đầu tư. Một phương pháp được đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách tài nguyên thiên nhiên sử dụng trong phân tích tính cấp thiết của các giải pháp đón đầu và hiệu quả của việc lựa chọn giải pháp đón đầu trước những biến đổi của khí hậu. Phương pháp này cho phép các nhà hoạch định chính sách xác định được các biện pháp phòng ngừa cần thực thi ngay.
- Ấn phẩmCái hợp lý và tình cảm hai chiều trong khoa học xã hội(1998-02) Bùi, Thế Cường [Người dịch]; Neil J., SmelserÝ tưởng “cái hợp lý” (the rational) chiếm vị trí nổi bật trong lịch sử triết học. Trong truyền thống này, nó liên quan mật thiết với lý trí (reason), một năng lực tinh thần nhờ nó con người có khả năng suy nghĩ một cách logic, phản tư (reflect) trên cơ sở những lập luận đúng đắn để hành xử, và phát hiện ra một đời sống hợp lý – cái đời sống hợp lý này đến lượt nó lại kết nối với một đời sống đức hạnh. Ý tưởng về lý tính vừa là điểm ngoặt (turning point) vừa là đỉnh điểm của thời đại lý tính (Age of Reason) ở nước Pháp thế kỷ XVIII, khi nó nhấn mạnh vào khả năng loài người có thể chế ra được một xã hội hợp lý, trật tự, thoát khỏi hiện trạng câu thúc bởi tôn giáo, chế độ quý tộc và cổ truyền (Taine 1881. Tocqueville 1856).
- Ấn phẩmNhân học sinh thái mới = The New Ecological Anthropology(1999) Nguyễn, Thị Hiền; P. Kottak, ConradCác ngành sinh thái học (ecologies) cũ đã tắc trách có cái nhìn hạn hẹp trong các khái niệm không gian và thời gian, những giả định theo thuyết chức năng và đặc tính phi chính trị của chúng. Gác sang một bên những giả định theo thuyết chức năng và sự nhấn mạnh lên tình trạng ngưng trệ (của con người) [(homeo)stasis], “ngành nhân học sinh thái mới” được đặt ở điểm giao của các hệ thống toàn cầu, quốc gia, khu vực và địa phương, nó nhau nghiên cứu kết quả của sự tương tác ở các cấp độ và các yếu tố. Nhân học sinh thái mới kết hợp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm với các công trình ứng dụng, định hướng chính sách quan trọng trong ngành mà Rappaport gọi là nhân học “nhập thế” (“engaged”); và một cách khác đi nó được làm cho hoà hợp với khía cạnh chính trị và những hàm ý của các quá trình sinh thái. Thận trọng đưa ra lời phê bình vềngành sinh thái học trước đây bằng cách tuyên bố những cách tiếp cận mới, bài viết nhấn mạnh nhu cầu phải nhận thức tầm quan trọng của những dàn xếp văn hoá trong các quá trình sinh thái chứ không phải đối xử với văn hoá như hiện tượng thứ yếu và chỉ đơn giản là một công cụ thích ứng. Bài viết khép lại bằng những tranh luận về các phương pháp luận thích hợp cho ngành nhân học sinh thái mới.
- Ấn phẩmNghèo đói và sinh kế đằng sau "cuộc sống thuần nông": Quan điểm Đông Nam Á = Poverty and livelihoods after full-time farming: A South-East Asian view(2005) TS. Nguyễn, Thị Phương Châm [Người dịch]; Rigg, JonathanDựa trên sáng kiến của Harold Brookfield xác định về tập trung hóa và phi tập trung hóa trong nông nghiệp nhiệt đới, bài viết chứng tỏ rằng ở vùng nông thôn Đông Nam Á, hiện đang diễn ra quá trình tách rời giữa sự nghèo đói và sinh kế khỏi việc đồng áng và các nguồn lực nông nghiệp ở các vùng nông thôn. Nguyên nhân của điều này thường do những thay đổi về lối sống và quan điểm sống hơn là do những nhu cầu cấp thiết về kinh tế và môi trường. Bài viết đề xuất rằng việc đồng áng hiện đang mất dần đi ý nghĩa và tầm quan trọng của nó đối với người nghèo ở nông thôn. Những mô hình thay đổi xuất hiện tại những vùng nông thôn Đông Nam Á đã được sử dụng để xây dựng một khung làm việc cho sự chuyển dịch ruộng đất nơi mà xu thế hiện nay hướng đến đa ngành nghề (pluriactivity) dường như được thay thế bởi sự pha trộn giữa các doanh nghiệp nông nghiệp, nông dân mới và những tiểu chủ còn lại. Bài viết kết luận bằng việc phản ánh những ý nghĩa của con đường này nhằm hiểu rõ hơn về nghèo đói và ủng hộ những can thiệp về nghèo đói ở nông thôn.
- Ấn phẩmVì xã hội học đại chúng = For Public Sociology(2005-03) Burawoy, MichaelĐây là cách một người phác họa thần lịch sử. Khuôn mặt của thiên thần hướng về phía quá khứ. Nơi chúng ta nhận thức về một chuỗi những sự kiện, thiên thần chỉ nhìn thấy một thảm họa đang chất mảnh vụn này lên mảnh vụn khác, và chất đống dưới chân ngài. Thiên thần muốn ở lại, đánh thức người chết, và gắn liền những mảnh vỡ. Nhưng một cơn bão đang thổi tới từ Thiên Đường; nó đã nắm lấy cánh của anh ta với sự bạo tàn của mình và khiến thiên thần không còn khép lại đôi cánh của mình được nữa. Cơn bão này không thể đẩy thiên thần về tương lai nằm phía sau lưng anh ta, trong khi đống đổ nát trước mặt anh đã cao ngút trời. Cơn bão là cái mà chúng ta gọi là tiến bộ- Walter Benjamin.
- Ấn phẩmMối liên hệ giữa lý thuyết và thực hành phát triển cộng đồng: đó là trực giác hay là điều không thích hợp? Nghiên cứu trường hợp New Britain Connecticut(2006-01) Nguyễn, Thị Hương [Người dịch]; Kotval, ZeniaTrong thực hành lập kế hoạch, thường có những cuộc thảo luận, tranh cãi và mặc cả trước khi đưa ra một kế hoạch mà hầu hết các bên liên quan đều nhất trí. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi có sự không tin tưởng một cách sâu sắc giữa các nhà lãnh đạo và người dân, mà không phải vì một lý do thông thường nào? Phải chăng lý thuyết về lập kế hoạch đã chỉ dẫn việc thực hành của chúng ta bằng trực giác hay khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành đã tạo ra điều không phù hợp giữa việc phát triển cộng đồng và các nhà lập kế hoạch chuyên nghiệp? Trong khuôn khổ của các nguyên tắc và lý thuyết lập kế hoạch, bài báo này sẽ mô tả khung cảnh, các mối quan tâm trong lập kế hoạch, quá trình lập kế hoạch và đánh giá họat động của một công ty tư vấn lập kế hoạch để tạo sức sống mới cho Quận doanh nghiệp Broad Street ở New Britain, Connecticut. Bài báo sẽ kết thúc với những bài học giành cho các nhà lập kế hoạch cũng như các chuyên gia phát triển cộng đồng hiện đang tham gia vào các dự án lập kế hoạch trong hoàn cảnh có sự chống đối và xung đột về giá trị.
- Ấn phẩmGia đình, cộng đồng và vốn xã hội: Quá khứ và những vấn đề hiện tại trong các nghiên cứu xã hội = Families, communities and social capital: Past and continuing false prophesies in social studies(2006-08) Goulbourne, HarryBài viết này đặt ra câu hỏi về những thế hệ nghiên cứu xã hội ở Anh trước đây (các nhà xã hội học, nhân học, khoa học chính trị …) đã làm thế nào để nghiên cứu các đặc tính văn hoá của các nhóm thiểu số sau chiến tranh khi mà họ đánh giá cao nhóm này nhưng lại coi nhẹ nhóm khác, và họ đã dùng cách đánh giá đó để đo lường tỉ lệ thành công hoặc thất bại của các nhóm thiểu số trong việc hoà nhập vào xã hội Anh lúc bấy giờ. Bằng phương pháp tổng quan và bình luận các nghiên cứu xã hội ở Anh về các yếu tố tác động trong hơn 4 thập kỷ, bài viết này nhận định rằng các nhà phân tích hiện nay cũng như trước kia phải đối mặt với những rủi ro trong công việc nghiên cứu, và họ cũng có thể nhầm lẫn khi nỗ lực ca ngợi hoặc phê phán sự đóng góp của các cộng đồng mới đối với trật tự xã hội trong giai đoạn đế chế ở nước Anh. Bài viết này hàm ý rằng muốn nghiên cứu các yếu tố được coi là đại diện cho vốn văn hoá và xã hội như bản sắc dân tộc, gia đình và mạng lưới thân tôc, đòi hỏi phải dùng cả nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu lý thuyết với sự nhạy cảm, nghiêm túc và sự chân thực .
- Ấn phẩmLý thuyết nhân học thế kỷ 19(2007) Nguyễn, Quang [Người dịch]; P. Reyna, StephenLý thuyết hiện nay trong lĩnh vực nhân học văn hóa xã hội đang suy thoái. Bài viết này hướng tới hai mục tiêu. Mục tiêu thứ nhất là chỉ ra lý do tại sao một dự án của các nhà phỏng đoán Geertizian, lại u ám như vậy. Mục tiêu thứ hai là đưa ra một phương pháp luận tiếp cận chân lý qua đó giúp cho ngành nghiên cứu này trở nên bớt nhàm chán. Tiếp cận chân lý phát triển bằng cách chỉ ra những điều chưa rõ. Phương pháp này cung cấp thông tin về những điều cần biết mà người ta chưa biết để củng cố lý thuyết. Phương pháp luận này được áp dụng trên một khía cạnh nào đó vào các tác phẩm của Bourdieu, Comaroffs và Sahlin. Phương pháp luận này chỉ ra rằng, những học giả trên đi theo trật tự lý thuyết của Hegel/Sartre và chịu ảnh hưởng của một lỗ hổng. Lỗ hổng này, theo thuật ngữ của Sartre, có vẻ là “thuyết nhị nguyên không thể bác bỏ” giữa xã hội và chủ cách. Việc lấp đầy lỗ hổng này có lẽ là một kế hoạch xứng đáng nhằm đưa nhân học văn hóa xã hội ra khỏi những hạn chế của một lý thuyết nhàm chán.
- Ấn phẩmTại sao vai trò của nhà phê bình nghệ thuật không còn quan trọng nữa(2007) Carrier, David; Vũ, Kim ThưGần đây, khi đọc bài viết rất chi tiết tỉ mỉ có tên Tầm nhìn đơn độc: Chủ nghĩa hiện đại và tính quan liêu trong cảm giác của Clement Greenberg do Caroline Jones viết và một bài viết tiểu sử khác với phong cách viết bộc trực của Alice Marquis có tên Sa Hoàng của nghệ thuật : Sự phát triển và thoái trào của Clement Greenberg (cả hai bài viết đều đuợc viết năm 2006), tôi băn khoăn tự hỏi tại sao vẫn có nhiều sự ngưỡng mộ đối với Clement Greenberg. Cách đây gần 30 năm khi tôi mới bắt đầu viết lý luận phê bình, biên tập viên Joe Masheck của tạp chí Artforum đã nói với tôi rằng cách nghĩ bộc trực thẳng thắn của Greenberg không còn được sùng bái nữa. Mặc dầu giới phê bình mỹ thuật đã vượt qua giai đoạn này, nhưng không một ai trong chúng ta gây được một ảnh hưởng lớn như Greenberg dù là nhỏ nhất. Arthur Danto là một nhà triết học nổi tiếng, người có nhiều bài viết hay in trên tạp chí The Nation, một tạp chí được lưu hành rộng lớn, được nhiều người ngưỡng mộ. Nhưng ông đã nói với tôi rằng các bài viết của ông không có một sự ảnh hưởng nào tới thị trường nghệ thuật. Không hề nghi ngờ rằng những bài viết bình luận trên các tạp chí như Newyork Times hay Artforum không mang lại mấy tầm quan trọng thực tế đối với sự nghiệp của các họa sỹ trẻ.Điều quan trọng giờ đây là nhận được sự hỗ trợ của các ông bầu nghệ thuật, các giám tuyển, và các nhà sưu tập. Ngày nay, phê bình nghệ thuật đóng một vai trò rất nhỏ trong toàn bộ hệ thống thương mại. Như Jerry Saltz đã nói: “ Trong vòng 50 năm trở lại đây, những gì các nhà phê bình nghệ thuật viết đã kém phần ảnh hưởng đối với thị trường hơn cả bây giờ”. Đôi khi người ta lo ngại rằng, phê bình nghệ thuật chỉ là sự quảng cáo những ý thích khác nhau của mỗi người. Chúng ta thật may mắn! Tôi nghi ngờ rằng không mấy ai mua, trưng bày, hay bán các tác phẩm nghệ thuật dựa trên ý kiến từ bài viết phê bình lý luận.
- Ấn phẩmYến Sơn – Những hòn đá của các học giả Trung quốc thời kỳ đầu(2007) Tô, Nguyên Hồ; Vũ, Kim ThưCuộc bán đấu giá mùa thu tại Bắc Kinh năm 2002, mang đến một tác phẩm thơ chữ nho của học giả thời Tống là Mễ Phúc (1051-1107) với 39 chữ kèm theo một bức tranh vẽ tảng đá Yến Sơn với giá trị lên tới 3,5 triệu đôla. Nó làm phấn khích toàn bộ giới hâm mộ nghệ thuật Châu Á. Bản chữ nho này ca ngợi vẻ đẹp của Yến Sơn, một tảng đá mực có hình quả núi. Bỗng nhiên, từ đây nổi lên sự hâm mộ và tranh cãi quanh chuyện đá Yến Sơn có tự bao giờ. Trong cuốn sách của tôi có tên Những hòn đá của các học giả trong thời kỳ cổ đại Trung Hoa, Catalogue đá Suyuan (của tác giả Tô Nguyên Hồ, được xuât bản của nhà XB Weatherhill, Bắc Mỹ và Hãng Thông Tấn Hoa Lan, Bangkok, Thailand năm 2002). Tỗi đã đề cập rằng trong lịch sử xưa của Trung Hoa, đá Yến Sơn là loại đá lâu đời nhất và điển hình nhất cho các loại đá của những học giả. Gốc gác Yến Sơn là những hòn đá có hình núi non với những lòng chảo lồi lõm. Những hòn đá này được đặt trên bàn của các học giả thời xưa, chúng được dùng để ngắm nhiều hơn là phục vụ mục đích thực dụng như mài mực. Trong suốt thời kỳ nhà Tống ( 960 – 1279), đá Yến Sơn có những đặc tính hình thể của loại đá mực. Những loại đá sau này mang dáng dấp của núi non hoặc phong cảnh đều được gọi là Yến Sơn, đối với cả những loại thiếu hình dáng đá mực. Giới trí thức Trung Hoa chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng Đạo Nho tôn thờ thiên nhiên, tập trung nhiều vào tính tâm linh và sự đối thoại với phong cảnh. Họ nhìn đá Yến Sơn như thiên nhiên được thu nhỏ. Yến Sơn giúp cho các học giả thả lỏng tâm trí du đãng qua các ngọn núi trong khi ngồi trước bàn làm việc của mình. Một bài thơ của nhà thơ Triệu Mộng Phúc thời Nguyên (1254 – 1322) đã được ghi lại nói về tảng đá Yến Sơn có tên “ Một ngọn núi nhỏ”.
- Ấn phẩmChẩn đoán thai sớm ở Việt Nam thời kì sau 1975: Quyền lực, tính chủ thể và quyền công dân(2007) Gammeltoft, Tine M.Trên thế giới, khám thai định kì bao gồm siêu âm hình ảnh bào thai và các kĩ thuật chẩn đoán thai sớm khác. Tuy có sự phát triển toàn cầu này, hầu như chưa nghiên cứu nhân học nào tìm hiểu xem những kĩ thuật mới này đã triển khai ở các nước ngoài Âu Mỹ như thế nào. Trong bài báo này, tôi nghiên cứu xem những phụ nữ mang thai ở thủ đô Hà Nội, Việt Nam làm thế nào để có được những chọn lựa đầy khó khăn khi kết quả siêu âm cho thấy họ đang mang thai bị dị tật và quyết định phải giữ hay chấm dứt thai kì. Trong khi nghiên cứu ở Bắc Mỹ với bối cảnh xã hội tự do cao và nhấn mạnh chủ nghĩa cá nhân, người ta coi vấn đề chẩn đoán thai sớm là “sự chủ động về đạo đức” của cá nhân, tôi lại chỉ ra cách mà phụ nữ Việt Nam chuyển vấn đề phải chọn lựa của mình sang vấn đề chung của tập thể, dòng họ, các liên hệ xã hội và chia sẻ trách nhiệm. Điểm mấu chốt quan trọng là,để hiểu biết toàn diện về hành vi và mục đích sinh sản của phụ nữ, cần cân nhắc đến các yếu tố địa phương như quyền lực, tính chủ thể, và quyền công dân.
- Ấn phẩmCác nhà nhân học chỉ cần ứng dụng: Các thách thức của nhân học ứng dụng(2007) TS. Nguyễn, Xuân Thơm [ Người dịch]; Sillitoe, PaulViệc ứng dụng nhân học đang ngày càng thu hút sự chú ý khi một thời việc này được coi là một việc đáng ngờ. Sự nổi lên của nhân học ứng dụng phản ánh sự lan toả rộng rãi của ngành học này khi người ta tìm kiếm sự ứng dụng trong một loạt các ứng dụng. Trong bài báo này tôi đưa ra ý kiến vềmột số vấn đề đang được tranh cãi mà tôi đã gặp phải trong khi cố gắng đối đầu với thách thức của ứng dụng nhân học trong bối cảnh “kiến thức của người trong nghề” về các vấn đề phát triển, các vấn đề đòi hỏi phải quan tâm chú ý để đẩy công việc lên phía trước. Một tổng luận ngắn gọn về lịch sử cho thấy việc không đề cập các vấn đề này đã ngăn cản các nỗ lực nhằm thiết lập ngành nhân học ứng dụng trước đây. Các vấn đề này bao gồm việc định nghĩa chủ đề mà chúng ta cần ứng dụng, những ứng dụng mang tính liên ngành cho các khoa học xã hội và vấn đề về chuyên môn sâu. Các xem xét khác liên quan đến việc tạo cho các phương pháp nhân học một góc cạnh ứng dụng bao gồm, ví dụ như, các đòi hỏi mang tính thách thúc của các nghiên cứu đi kèm. Tôi lược giản ra đây năm phương pháp để quan sát nhân học ứng dụng: Khai thác bí quyết công nghệ của những khoa học khác; sử dụng kiến thức nội bộ môn để thúc đẩy sự phát triển; Chuyển giao việc nghiên cứu và ứng dụng qua các nền văn hoá; Tìm cách đẩy mạnh việc sử dụng tri thức cho mục đích thị trường; và cuối cùng tạo ra sự phê phán mang tính cấp tiến về quá trình phát triển. Tất cả các vấn đề này đếu là những thách thức đối với chúng ta. Và chúng chỉ ra thời đại thú vị cho nhân học.
- Ấn phẩmGiấc mơ của nghệ thuật thổ dân(2007) Vũ, Kim Thư; Kalina, RichardAi vẽ tranh giống phong cách mình thế nhỉ” - Rover Thomas, một trong những hoạ sỹ thổ dân lớn nhất Australia đã thốt lên như vậy vào năm 1990 khi ông lần đầu tiên đối diện trước bức tranh # 20 vẽ năm 1957 của Mark Rothko trưng bày tại Gallery quốc gia Australia. Câu hỏi này gợi mở một sự nhìn nhận đối ngược lại với cách nhìn mà người Châu Âu vẫn dành cho nghệ thuật thổ dân. Thomas, một hoạ sỹ từ vùng sa mạc phương Tây chuyên vẽ những hình mảng đặc , sử dụng một cách đơn giản các màu đắt dạng bột tự nhiên. Giấc mơ riêng”, một cuộc triển lãm tuyệt vời có tầm cỡ lớn bao gồm 33 hoạ sỹ thổ dân nữ, tại bảo tàng Hood thuộc trường đại học Quốc Gia tại bang New Hamphire ( các tác phẩm nghệ thuật này được triển lãm trước đó tại Bảo tàng nghệ thuật phụ nữ quốc gia tại Washington D.C), tôi đã đề cập đến niềm đam mê yêu thích của mình đối với nghệ thuật thổ dân nói chung và cuộc triển lãm này nói riêng đối với một nhà phê bình có tuổi người Mỹ. Ông ấy gạt phắt ra ngay, tôi không nhớ rõ những từ ngữ chính xác, nhưng câu nói “ một phong cách trừu tượng bốc đồng hạng ba” là những gì nhà phê bình này sử dụng trong sự phán xét cá nhân của mình. Văn hoá thổ dân Australia là một trong những nền văn hoá lâu đời nhất trên thế giới. Đây là một nền văn hoá sâu đậm mang tính bảo thủ với ước muốn không để lại một dấu vết, không thay đổi thế giới tự nhiên như nó đã tồn tại, những quy luật phi thời gian và những câu chuyện của dân tộc họ. Ngôn ngữ viết không phải là truyền thống của văn hoá thổ dân ; những tế bào kết nối họ với nhau chính là mạng lưới quan hệ thân tộc và những câu chuyện về giấc mơ. Nhìn rộng ra, nghệ thuật thổ dân là một nguồn lực tích cực, nó giúp cung cấp tài chính cho những vùng dân cư xa xôi hẻo lánh, đưa ra những ý nghĩa và sự tập trung vào cá nhân những người dân, và tạo điều kiện cho việc lưu truyền các thông tin sống còn, giữ gìn kết cấu chặt chẽ của một nền văn hoá
- Ấn phẩmBối cảnh đất nước và công việc gia đình của vợ và chồng tại 34 quốc gia = National context and spouses' housework in 34 countries(2007) Knudsen, Knud; Wearness, KariBằng cách tập trung vào bối cảnh quốc gia và các nhân tố cá nhân ảnh hưởng đến sự đóng góp tương đối và tuyệt đối của người vợ và người chồng trong gia đình, các nhà khoa học đã có thể hiểu rõ hơn về sự bố trí và chia sẻ công việc nhà trong gia đình giữa các cặp vợ chồng. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra mối liên hệ giữa quyền hạn của người phụ nữ và sự chia sẻ công việc nội trợ trong gia đình. Tuy nhiên, những tác động được ghi lại thì lại chỉ ra điều hoàn toàn ngược lại. Các tác giả cho rằng mô hình xuyên quốc gia ít được công bố về những ảnh hưởng mang tính chất tương đối phản ánh sự thật là bối cảnh đất nước ảnh hưởng đến sự tham gia của cả vợ và chồng theo cùng một chiều hướng. Người ta cũng nói đến giả thuyết “discount” liên quan đến tác động qua lại đối với những nỗ lực mang tính tương đối và tác động không qua lại đến sự đóng góp của người vợ và người chồng vào công việc nội trợ trong gia đình. Hơn nữa, việc mở rộng mô hình tác động trong đó có cả tác động liên quan sự phát triển của nền kinh tế như là một biến số giải thích cho cấp độ phát triển kinh tế ở tầm vĩ mô thừa nhận sắc thái các khía cạnh mang tính chất bối cảnh của đất nước có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định làm việc nhà của người vợ và người chồng. Trong khuôn khổ mở rộng của việc trao quyền cho phụ nữ mà ban đầu nó còn rất yếu này, thì mối quan hệ tương đối liên quan đến sự phân chia lại là mạnh mẽ hơn. Dựa vào một phân tích đa cấp đối với các số liệu thu thập được gần đây tại 34 quốc gia trong khuôn khổ chương trình điều tra xã hội quốc tế (ISSP), bài báo này, xét trên một phương diện lớn hơn ở mức có thể tính cho đến thời điểm này, đã cùng lúc phân tích những đóng góp mang tính tuyệt đối và tương đối của người vợ và người chồng, đồng thời nó cũng điều tra những tác động qua lại giữa áp lực về nền kinh tế ở cấp độ vĩ mô và những yếu tố ở cấp độ cá nhân trong ảnh hưởng đến lao động nội trợ trong gia đình của các cặp vợ chồng.
- Ấn phẩmNhận định lại về nhân học ứng dụng: Qúa khứ, hiện tại và tương lai(2007) PGS.TS. Nguyễn, Xuân Thơm [ Người dịch]; Rylko-Bauer, Barbara; Singer, MerrillMối quan tâm ngày càng tăng về tác động của nhân học trong cả giới và trong khung cảnh xã hội rộng lớn đã dẫn đến việc đòi hỏi phải có một nền nhân học “công chúng” hơn và phù hợp hơn. Trong bài báo này, chúng tôi mở rộng trên hướng đó bằng cách kêu gọi một sự tham gia có hệ thống của lý thuyết xã hội phê phán vào ứng dụng và tham gia thực tế với các vấn đề đương thời. Chúng tôi lập luận ủng hộ việc tái định vị nhân học ứng dụng như là một thành phần cốt tửcủa ngành học rộng lớn và nêu ý kiến rằng nó cần phục vụ như là một khung xây dựng một ngành nhân học nhập cuộc nhiều hơn nữa. Trong rà soảt lại lịch sử của ngành học và các phê phán về nhân học ứng dụng, chúng tôi biểu thị vai trò trung tâm của ứng dụng trong suốt tiến trình vận động của nhân học, đề cập những quan niệm sai lầm từng làm rào cản đối với sự hội nhập thực tế của ngành học, khảo sát vai trò của việc đề xướng một sự nhập cuộc lớn hơn cúng như mối quan hệ của lý thuyết đối với thực tiễn và kết luận là một đánh giá về một công việc đa dạng vốn sẵn tồn tại trong cơ cấu tổng thể của nhân học ứng dụng”
- Ấn phẩmĐôi vai của những người khổng lồ: Claude Levi-Strauss và di sản của ông trong nhân học đương đại = The shoudlers of our giants: Claude Levi-Strauss and his legacy in current anthropology(2007) Nguyễn, Văn Sửu [người dịch]; Doja, AlbertTrong các phê phán chống cấu trúc luận, sự công kích chính của tiếp cận nhận thức luận (epistemological approach) của levi-Strauss dường như bị mất, ảnh hưởng không tốt cho ngành nhân học và các ngành khoa học xã hội. Với một đặc tính bất hủ, nghiên cứu của Levi-Strauss đã gợi lại những tính cách của một số cha đẻ ngành học, đồng thời, trong mối liên hệtới văn hóa, tâm lý, tiên liệu một nền nhân học lý thuyết ra đời, muốn tạo dựng một phương pháp nghiên cứu chính xác tiến gần tới tri thức khoa học. Điểm cơ bản giờ đây là việc giải phóng tiếp cận cấu trúc khỏi mô hình ngôn ngữ và hướng tới một bối cảnh mới về khoa học và công nghệ, như được minh họa trong toán học, công nghệ thông tin, điểu khiển học và lý thuyết trò chơi, những ngành khoa học làm cho nhân học cấu trúc có thể giải thích một cách tân tiến các hệ thống xã hội và tập quán của thực tiễn quan trọng và cạnh tranh.
- Ấn phẩmTokyo- một thành phố quốc tế: Đánh giá lại vai trò của Tư bản và Nhà nước trong tái cấu trúc Đô thị = Tokyo-as-World-City: Reassessing the Role of Capital and the State in Urban Restructuring(2007-07) Waley, PaulNghiên cứu về các thành phố quốc tế đã được làm nóng bởi cuộc thảo luận về vị thế của Tokyo theo một mô hình lý thuyết dường như rõ ràng là bắt nguồn từ Bắc Đại Tây Dương. Trong những năm gần đây, người ta đã cho rằng Tokyo được hình thành với sự can thiệp bất thường của Nhà nước. Tài liệu này xem xét lại lập luận này và đưa ra quan điểm rằng vai trò của tư bản trong việc tái cơ cấu ở Tokyo đã bị đánh giá thấp. Tài liệu này đặt tư bản của Nhật Bản trong một bối cảnh xây dựng lý thuyết đô thị rộng hơn thông qua việc sử dụng ba loại lý thuyết: quản lý đô thị, lãnh thổ đô thị và không gian sống đô thị. Tài liệu này theo đổi quá trình tái cấu trúc lãnh thổ Tokyo và nhào nặn cạc không gian sống, rút ra vai trò quan trọng hơn bao giờ hết của các tập đoàn kinh doanh trong các dự án phát triển đô thị, với vai trò cổ động của chính phủ quốc gia; và chính quyền địa phương ngày càng bị gạt sang một bên.
- Ấn phẩmChế độ tái tạo đô thị ở Trung Quốc: Một nghiên cứu tình huống về tái phát triển đô thị ở khu vực Taipingqiao của Thượng Hải = An urban regeneration regime in China: a case study of urban redevelopment in Shanghai’s Taipingqiao area(2007-08) You-Ren, Yang; Chih-hui, ChangBài báo này tìm hiểu các dự án tái phát triển đô thị Taipingqiao ở Thượng Hải, những dự án đã bảo tồn dạng kiến trúc “Shikumen” với mục tiêu khai thác những động lực đằng sau tái cấu trúc không gian của Thượng hải và nhằm làm sáng tỏ những cơ chế mới của hợp tác công cộng- tư đang diễn ra ở Trung Quốc. Một mô hình được gọi là “chế độ tìm kiếm chênh lệch tiền thuê nhà” (RGSR) được đưa ra nhằm giải thích những cơ chế đằng sau sự tái phát triển của đô thị Trung Quốc. Người ta tìm ra rằng logic của tích lũy tư bản đã thống trị việc tái định dạng những kiểu không gian của Shikumen và đã được chuyển thành những giá trị bất động sản tiêu biểu. Người ta lập luận rằng một liên minh ủng hộ tăng trưởng giữa chính quyền quận và tư bản nước ngoài đã nổi lên trong suốt quá trình tái cơ cấu này; tài liệu này phân tích những đặc điểm của cách thức liên minh này thực hiện sức mạnh của nó. Cuối cùng, dựa trên nghiên cứu tiên nghiệm, tài liệu này gắn liền việc phân tích chế độ của Phương tây vào một bối cảnh lý thuyết.
- Ấn phẩmSự phân tích đường nét: là một nghệ sỹ theo phong cách tổng hợp, Diana Cooper đã sử dụng các chất liệu thủ công tạo nên những hình, mảng kỷ hà một cách táo bạo, nhưng cũng rất vui nhộn, mang phần nào tính chất tự do của chủ nghĩa Orwellian(2008) Wei, LillyTác phẩm Daphne (năm 2006) là một bức cắt dán trừu tượng thu hút sự chú ý với hình thức vẽ chất liệu tổng hợp được đặt gần cửa ra vào của cuộc triển lãm gần đây có tên “ Đằng sau những đường nét: Nghệ thuật của Diana Cooper” tại Bảo Tàng Nghệ Thuật đương đại, Clevelend. Múa may với những hình ảnh ảo giác của các nữ thần tuyệt đẹp chuyển dần sang hình ảnh cây nguyệt quế rồi lại để thoát thân khỏi vòng tay của Apollo đa tình – những hình ảnh này được biểu hiện với những chiếc đĩa xếp dọc, rung rinh từ phía sau nền – với hệ thống cân bằng đầy mạo hiểm của những mảng cắt tinh xảo và dày đặc, được vẽ bằng những nét đen rất mảnh cũng như những nét bút dứt khoát trên nền xanh lá cây bao gồm cả sự mềm mại cũng như cứng cáp, sự biến hóa và những đường chạy điên cuồng dường như là tinh thần của cuộc triển lãm đầy cuồng nhiệt này. “Đằng sau những đường nét: Nghệ thuật của Diana Cooper” được trưng bày tại Bảo tàng nghệ thuật đương đại Cleveland ( 28 tháng 9 đến 30 tháng 12 năm 2007). Nghệ sỹ gần đây đã triển lãm tại Postmaster Gallery, New York ( từ 23 tháng 2 đến 29 tháng 3 năm 2008) Lilly Wei là một nhà văn và là một curator.
- Ấn phẩmChiến tranh lạnh, nghệ thuật “nóng”(2008) D. Katz, JonathanTựa đề cuộc triển lãm bằng tiếng Anh sử dụng lối chơi chữ một cách nhẹ nhàng “Be-Bomb: The Transatlatic War of Images and all that Jazz” (“Be-Bomb”: Cuộc chiến xuyên Đại Tây Dương của các hình ảnh và những thứ tương tự”) tương phản mạnh mẽ tựa đề của triển lãm này bằng tiếng Tây Ba Nha có nghĩa là “Under the Bomb” (Dưới làn bom). Tôi thấy tựa đề sau phù hợp hơn, ít ra là vì cách thức nó phản đối đường lối chính trị Chiến tranh lạnh được đưa thành khẩu hiệu “duck and cover” nhằm ngụy trang cho một thực tế sâu sắc hơn, đáng sợ hơn, kinh tế chính trị hơn, mà chúng ta không muốn nhắc tới.(1) Quy mô triển lãm là rất lớn: 200 bức tranh, 108 bức ảnh, 95 bức vẽ trên giấy, 50 phim và 200 tư liệu lịch sử, trải dài suốt 2 tầng nhà màu trắng lạnh lẽo thuộc thiết kế của Richard Meier. Triển lãm này là những âm điệu không ăn khớp của những tư tưởng giúp gợi lên những cảm hứng tràn đầy trong các thời khắc lịch sử với những kết cục vẫn chưa rõ ràng, một khoảnh khắc bị bao phủ bởi mối lo ngại vũ khí hạt nhân sẽ thiêu đốt tất cả các cảm hứng thành tro bụi. Cụ thể, triển lãm đã đặt mỹ thuật méo mó và những cuộc chiến chính trị vào cùng một bối cảnh thời hậu chiến- do chúng thường trùng hợp với nhau- đối với những xu hướng nghệ thuật trong một thế giới đang được tổ chức lại nhanh chóng. Ngoại trừ một phần nhỏ của triển lãm được dành cho nghệ thuật và chính trị của Tây Ba Nha dưới thời kỳ độc tài phát xít của Francisco Franco, “Be-Bomb” tập trung chủ yếu vào văn hóa Pháp, nền văn hóa ưu việt của Châu Âu trong suốt thời kỳ đó. Triển lãm này chủ yếu phác họa cuộc cạnh tranh giữa hai siêu cường văn hóa của thời đại, vạch ra một cách tỉ mỉ sự đối nghịch nghệ thuật Pháp- Mỹ trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Dưới góc nhìn của Mỹ, cuộc triển lãm hoàn toàn đối nghịch với kỳ vọng nhằm đánh giá những tác động lịch sử của một vấn đề nằm ngoài sự thống trị của Mỹ, như thể chiến thắng về văn hóa cuối cùng của người Mỹ có vẻ không được nghĩ đến, hoặc không chắc chắn theo một cách nào đó.
- Ấn phẩmSự lan toả, tiếp biến và toàn cầu hóa :Một số nhận xét về các cuộc tranh luận hiện tại trong nhân học = Diffusionism, Appropriation, and Globalization: Some Remarks on Current Debates in Anthropolgy.(2008) Nguyễn, Thị Hiền [Người dịch]; Hahn, Hans PeterLan toả là một vấn đề lý thuyết trong nhân học đã tồn tại khá lâu. Những nghiên cứu gần đây về toàn cầu hóa chỉ ra sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa những điều hiểu biết về sự lan toả ở thế kỷ XIX với những diễn giải mới nhất về hiện tượng văn hóa đang luân chuyển trên toàn cầu. Tương tự như vậy, nhiều yếu tố khác cũng chỉ ra sự ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với văn hóa địa phương. Thay vì theo quan điểm vĩ mô vạch ra tương lai thế giới, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu sát thực hơn những hành động cụ thể của địa phương trong bối cảnh chịu tác động của toàn cầu hoá nhằm tránh có một sơ suất nào đó có thể chấm dứt các cách tiếp cận của thế kỷ XIX. Việc tập trung vào quan điểm, cách nhìn địa phương thông qua nghiên cứu tiếp biến văn hoá có thể được xem là một cách thức tối ưu để tìm hiểu ảnh hưởng của toàn cầu hóa tới các địa phương.
- Ấn phẩmHãy tru lên đi, chó sói! Những câu chuyện kể về sự hồi phục của chó sói ở Pháp và Na Uy = Cry wolf!: narratives of wolf recovery in France and Norway(2008) Skogen, Ketil; Mauz, Isabelle; Krange, Olve; Mai, Huy Bích [Người dịch]Do sự bảo vệ nghiêm ngặt suốt trong mấy thập kỷ gần đây, chó sói đang trở lại nhiều vùng, nơi chúng đã vắng bóng một thời gian dài. Đây là một câu chuyện về bảo tồn thành công, nhưng chó sói cũng gây nên nhiều xung đột ở bất kỳ nơi nào chúng xuất hiện. Chúng tôi đã nghiên cứu tình hình miền Đông nam Na Uy và và vùng núi Alps thuộc Pháp, nơi có những xung đột giống nhau. Những cách hiểu khác nhau về tình hình đã được sự hậu thuẫn của các câu chuyện mà người ta thường kể, và có hai biến thể đang trở nên ngày càng quan trọng ở cả hai nước. Trong những người chống lại chó sói rất phổ biến những lời đồn đại rằng chó sói đang được bí mật đưa trở lại. Một câu chuyện khác vốn rất quan trọng đối với phe ủng hộ chó sói thì dựa trên quan niệm rằng chỉ ở Nauy hoặc Pháp mới có những thói quen chăn nuôi cừu nhất định (để chúng gặm cỏ mà không ai trông coi) – trong khi thực ra có nhiều nét giống nhau hơn la khác biệt. Tuy nhiên, trong khi những lời đồn đại rằng người ta đã đồng lõa với nhau để đưa chó sói trở lại đã bị chế giễu, thì quan niệm cho rằng xung đột là độc nhất vô nhị với mỗi quốc gia lại được đặt vào vị thế gần như là chân lý chính thống. Hơn thế nữa bản thân câu chuyện cho rằng chó sói phục hồi một cách tự nhiên cũng thiên vị, chứ không phải là một “sự thật khoa học”. Vị thế khác nhau của câu chuyện này đã cho ta biết ít nhiều quan hệ quyền lực. Nếu xét nền tảng xã hội khác nhau của chúng, thì có lẽ thật thích hợp khi ta coi hình ảnh vẽ nên tính độc nhất vô nhị của mỗi quốc gia và mỗi lý thuyết về sự phục hồi tự nhiên là gắn chặt với quyền lực biểu trưng, còn những lời đồn đại về sự đồng lõa đưa chó sói trở lại là gắn với sự kháng cự về văn hóa.
- Ấn phẩmCó phải hiện đại hóa Đức Chúa” trong tín ngưỡng Vodou của Haiti? Những nhận xét về Đức Chúa Olowoum và phong trào tái châu Phi hóa ở Haiti = “Modernizing God” in Haitian Vodou.(2008) Nguyễn, Thị Hiền [Người dịch]; Thylefors, MarkelBài viết này khám phá những quá trình thay đổi của tôn giáo trong tín ngưỡng Vodou của Haiti từ quan điểm “tái châu Phi hóa” và “phi hỗn dung”. Bài viết giới thiệu Olowoum như là Đức Chúa của tín ngưỡng Vodou, thay thế Chúa Bondye của Thiên chúa giáo. Đưa những yếu tố mới, như Đức Chúa Olowoum vào trong tín ngưỡng Vodou dường như chứa đầy sự hơi đối lập trong quan điểm của người thực hành tín ngưỡng này. Cũng như vậy không thể nói được về những nỗ lực loại bỏ những yếu tố tôn giáo (những vị thánh Công giáo) khỏi tín ngưỡng Vodou. Tái châu Phi hóa và phi hỗn dung được hiểu một cách tốt nhất như là những thể hiện đương đại của truyền thống lâu đời tiếp thu tôn giáo của Vodou.
- Ấn phẩmKhái niệm hóa thủ công(2008) Clark, GarthThủ công vẫn là một lĩnh vực thú vị và chưa được khai phá, nó liên quan tới đạo đức, chính trị, thực tiễn và mỹ học theo những cách khác nhau chứ không chỉ đơn thuần là nghệ thuật. Và có những bằng chứng cho những mối quan tâm về lý thuyết và lịch sử của thủ công đang tăng dần lên. Glenn Adámon là một trong người hiệu đính sáng lập ra một tạp chí mới về mỹ học và lịch sử của thủ công, Tạp chí Thủ công Hiện đại (Journal of Modern Craft) (Berg), được xuất bản lần đầu vào tháng Ba. Một cuốn sách giáo khoa về lịch sử thủ công hiện đại đang được viết, và PBS đã giới thiệu Thủ công ở Hoa Kỳ. Một trong những lý do của việc ít người viết về thủ công là kể từ Thế chiến thứ II, lý thuyết thủ công đã bị gói gọn trong một lý luận một chiều, nghe có vẻ hợp lý “thủ công là nghệ thuật”. Đây là một trong những nguyên nhân cốt lõi của cuộc khủng hoảng về thủ công ngày nay. Các tổ chức đang trở nên hạn chế, những tư tưởng dẫn đường đang bỏ qua “chữ o”, việc đưa sản phẩm ra thị trường đang yếu dần. Chừng nào thủ công còn chịu tác động lớn của nghệ thuật, những thợ thủ công (chiếm con số vài trăm trong số vài ngàn làm nghệ thuật ở Hoa Kỳ) sẽ không thể tìm được một định nghĩa về thủ công trong thế kỷ 21. Có cuốn sách nào trong số trên sẽ giúp thủ công ra khỏi vũng lầy này.
- 1 (current)
- 2
- 3
- 4
- 5