CL - Tài liệu Hội nghị - Hội thảo (Conference Papers)
Duyệt CL - Tài liệu Hội nghị - Hội thảo (Conference Papers) theo Năm xuất bản
- Ấn phẩmLe Fossé Numérique(2001-01) Nguyễn, Ngọc TrânEn 1996, 91% des internautes appartiennent au pays de l’OCDE; moins de 1 téléphone pour 100 habitants au Cambodge, 99% de la population de Monaco possède un téléphone. En 1999, on compte 290 million d’internautes dont 219 million vivent dans les 15 pays les plus industrialisés. Seulement 3 million pour tout l’Afrique. Mais ces écarts, si importants sont ils, ne sont que des reflets de deux fossés, économique et du savoir, dont le fossé numérique, qui à l’heure actuelle divisent notre monde. Est-il possible de réduire ces fossés? Et comment? La réponse passe par l’analyse de leur génèse.
- Ấn phẩmĐại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh: Báo cáo thường niên 2008(Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2008)
- Ấn phẩmĐại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Báo cáo thường niên 2009(Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2009)
- Ấn phẩmĐại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Báo cáo thường niên 2010(Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2010)
- Ấn phẩmĐại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: 15 năm xây dựng & phát triển(Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2010)15 năm qua, dù có những lúc khó khăn, nhưng với nỗ lực phấn đấu không ngừng của nhiều thế hệ cán bộ, giảng viên và sinh viên, ĐHQG-HCM đã dần hoàn thiện mô hình, trở thành một hệ thống các trường đại học, viện nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, có uy tín và chất lượng của Việt Nam, khẳng định vị thế và tầm vóc trong cộng đồng giáo dục đại học ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới. 15 năm qua, theo nhịp thời đại, Việt Nam thực sự chuyển mình mạnh mẽ, từng bước vươn lên thành một nền kinh tế phát triển trong thế kỷ XXI. Và ĐHQG-HCM, bằng tri thức, trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ của mình đã có những đóng góp xứng đáng vào tiến trình Đổi mới của đất nước, đem lại niềm tự hào chung cho toàn hệ thống. Kỷ niệm 15 năm thành lập ĐHQG-HCM, chúng ta không chỉ tổng kết những thành quả, rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng một mô hình giáo dục mới, mà còn là thời điểm thích hợp để chúng ta cùng suy ngẫm, cũng hướng tầm nhìn về tương lai.
- Ấn phẩmThe Vietnamese Mekong delta facing the double challenge of the climate change(2010-05-25) Nguyễn, Ngọc TrânLying at the edge of the Lower Mekong Basin (LMB) in contact with the East Sea, the Mekong delta is one of the most threatened deltas by the global climate change. The Vietnamese part of the delta (VMD), where live nearly 20 million inhabitants, must face a double challenge of this phenomenon, one coming from the upstream, the other, from the sea whose actions are intensified, in particular by the rise of its level. Fig.1.
- Ấn phẩmĐánh giá hoạt động phổ biến kiến thức thông tin tại Trung tâm thông tin học liệu – Đại học Đà Nẵng(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Nguyễn, Vĩnh HàHoạt động phổ biến kiến thức thông tin tại Trung tâm Thông tin Học liệu – ĐHĐN mặc dù đã được triển khai thực hiện từ lâu, song đến nay vẫn còn những hạn chế nhất định và chưa đạt được kết quả tương xứng đối với vai trò của đơn vị trong định hướng phát triển chung của ĐHĐN. Bên cạnh việc phát triển nguồn lực thông tin, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, Trung tâm cần tăng cường đẩy mạnh hơn nữa hoạt động phổ biến kiến thức thông tin với chiến lược quảng bá và triển khai hoạt động một cách thiết thực góp phần cùng Đại học Đà Nẵng đào tạo nguồn nhân lực toàn diện được trang bị đầy đủ “kiến thức thông tin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm kiếm, tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả, cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời”
- Ấn phẩmSử dụng powerpoint trong huấn luyện Kỹ năng thông tin(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Lê, Thùy Dương
- Ấn phẩmKhung kiến thức thông tin áp dụng tại Úc và New Zealand: nguyên tắc, tiêu chuẩn và thực tiễn(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Viện nghiên cứu Úc và New Zealand về kiến thức thông tin
- Ấn phẩmKỹ năng thông tin – Khái niệm và ý nghĩa(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Lê, Thùy Dương
- Ấn phẩmThực hiện bài giảng(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Nguyễn, Hồng Sinh
- Ấn phẩmHuấn luyện kỹ năng thông tin cho độc giả tại Thư viện Trung tâm ĐHQG – HCM thực tiễn và triển vọng(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Hoàng, Thị Hồng NhungKỹ năng thông tin (KNTT) là vấn đề được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Cách tiếp cận vấn đề của các tác giả/nhóm tác giả cũng có nhiều khác biệt, từ thuật ngữ (Kỹ năng thông tin, kiến thức thông tin, hiểu biết thông tin…) đến nội hàm của thuật ngữ. Trong phạm vi của tham luận này, trên cơ sở những tài liệu đã tham khảo và thực tiễn công tác, tác giả xem xét KNTT như một kỹ năng với các nội dung chính (1) khả năng nhận biết một cách chính xác nhu cầu tin của bản thân; (2) khả năng định hướng và tiếp cận được với những nguồn cần thiết để tìm thông tin thỏa mãn nhu cầu tin; (3) khả năng đánh giá, lựa chọn thông tin nhận được; (4) khả năng sử dụng thông tin có hiệu quả vào giải quyết vấn đề, nâng cao năng lực của mình.
- Ấn phẩmXây dựng chương trình huấn luyện Kỹ năng thông tin(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Lê, Thùy Dương
- Ấn phẩmKinh nghiệm tổ chức chương trình đào tạo kỹ năng thông tin tại Trung tâm học liệu trường Đại học Cần Thơ(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Huỳnh, Thị Trúc PhươngChương trình đào tạo Kỹ năng thông tin của Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ (TTHL ĐHCT) đã được đội ngũ cán bộ của trung tâm xây dựng và triển khai từ cuối năm 2006, dựa trên nền tảng của công tác đào tạo người dùng được Thư viện Trung tâm của trường ĐHCT thực hiện từ nhiều năm trước đó. Là một hoạt động mới mẻ và còn non trẻ trong lĩnh vực thông tin – thư viện ở Việt Nam, chương trình đào tạo kỹ năng thông tin của TTHL ĐHCT đã từng bước hình thành và phát triển thành một hoạt động thường xuyên và gắn bó với độc giả thư viện. Mặc dù còn nhiều thiếu sót và trở ngại cần khắc phục, nhưng nhìn chung hoạt động đào tạo kỹ năng thông tin của TTHL ĐHCT đã tạo được bước khởi đầu đáng khích lệ cho sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động này trong tương lai. Được trình bày dưới đây là những kinh nghiệm mà đội ngũ cán bộ TTHL ĐHCT đã đúc kết được trong suốt quá trình xây dựng, triển khai và cải tiến chương trình đào tạo kỹ năng thông tin để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng độc giả của trường ĐHCT.
- Ấn phẩmCác yêu cầu đối với một thư viện đại học trong việc huấn luyện kiến thức thông tin cho người dùng tin thông qua việc xem xét kinh nghiệm ở nước ngoài và điều kiện ở Việt Nam(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Nguyễn, Đăng HàMục tiêu của Giáo dục Việt Nam là trong một tương lai không xa sẽ phấn đấu đuổi kịp và đạt trình độ khu vực và thế giới. Để làm được điều này không còn con đường nào khác hơn là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Một trong những giải pháp hết sức cơ bản và cấp thiết là phải xây dựng được một nền tảng chiến lược phát triển KTTT cho sinh viên không những cho những năm dưới mái trường đại học mà còn cho việc học suốt đời. Có như vậy chúng ta mới hy vọng trong một tương lai không xa chúng ta sẽ cho ra thị trường lao động một lớp người lao động không những có trình độ chuyên môn cao mà còn có KTTT để có thể đáp ứng với nhu cầu phát triển của xã hội cũng như đáp ứng được nhu cầu học tập suốt đời của một con người trong xã hội bùng nổ thông tin như hiện nay
- Ấn phẩmPhổ biến kiến thức thông tin trong trường Đại học tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Dương, Thúy HươngThuật ngữ “Information Literacy” tạm dịch là “Kiến thức thông tin”, ngày càng trở nên quen thuộc trong các trường đại học Việt Nam. Kiến thức thông tin là một trong những yếu tố tạo nên nền tảng vững chắc cho việc học tập và học tập suốt đời (Life-Long Learning) của mỗi người, trong đó có sinh viên. Theo Joan M. Reitz (2004), kiến thức thông tin là “Kỹ năng tìm kiếm thông tin theo nhu cầu, gồm có sự am hiểu về cách tổ chức các thư viện cũng như các nguồn tài nguyên mà họ cung cấp (các dạng thông tin và công cụ tìm kiếm tự động) cùng với các kỹ thuật tìm kiếm thông thường. Khái niệm này cũng bao gồm các kỹ năng cần thiết để đánh giá nội dung thông tin và sử dụng nó một cách hiệu quả, những tri thức về cơ sở hạ tầng truyền dẫn thông tin, kể cả về mặt chính trị, xã hội, ngữ cảnh văn hóa và tác động của nó. Khái niệm này đồng nghĩa với kỹ năng thông tin, có thể so sánh với khái niệm kiến thức tin học”. Nếu như ở thập niên 90, thư viện các trường đại học Việt Nam chỉ tổ chức những buổi giới thiệu thư viện cho sinh viên năm thứ nhất, thì sau năm 2000 và đặc biệt từ năm 2005 cho đến hiện nay, chương trình kiến thức thông tin đã từng bước được thư viện xây dựng và phổ biến đến sinh viên tại một số trường đại học Việt Nam.
- Ấn phẩmXây dựng và sử dụng tài liệu hỗ trợ giảng(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Lê, Thùy Dương
- Ấn phẩmSử dụng các phần mềm online(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Lê, Thùy Dương
- Ấn phẩmGiải pháp nâng cao năng lực cho cán bộ thư viện đại học giảng dạy kỹ năng thông tin(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Huỳnh, Thị Xuân PhươngNhiều thư viện và trung tâm thông tin thiết kế chương trình giảng dạy KNTT ở bậc đại học. Tuy nhiên, ít nơi nào đặt vấn đề phát triển chuyên môn cho người dạy KNTT. Ở một số nước có ngành TT-TV tiên tiến, vấn đề nâng cao năng lực cho cán bộ thư viện trở thành người dạy KNTT chỉ mới đề cập trong vòng 30 năm trở lại đây (Walter, 2009). Như vậy, lâu nay chúng ta chỉ nói đến người học và học những gì, nhưng chúng ta lãng quên rằng chính người dạy KNTT cũng cần phải học và học như thế nào. Điều này ví như một người kỹ sư hướng dẫn cho người khác xây nhà nhưng chưa bao giờ tự xây nhà cho mình. Hơn bao giờ hết, vấn đề này cần xem xét và nghiên cứu sâu hơn để có những bước đi phù hợp.
- Ấn phẩmHuấn luyện KNTT – Những nguyên lý cơ bản(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Lê, Thùy Dương
- Ấn phẩmTiêu chuẩn, chương trình đào tạo và quá trình học tập: ứng dụng vào phát triển năng lực nghề nghiệp(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2011) Judy, Peacock
- Ấn phẩmĐại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Báo cáo thường niên 2011(Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2011)
- Ấn phẩmDeveloping cooperation between Library and other educatonal research departments within university: a workshop for Vietnamese University Library Managers = Phát triển sự hợp tác giữa Thư viện và các đơn vị trong trường Đại học(Thư viện Trung tâm ĐHQG.HCM, 2012) Stephen, Vincent O’Connor
- Ấn phẩmMô hình kiểm soát quyền truy cập cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý quản lý dân cư của một tỉnh theo không gian – thời gian(Trường Đại học Công nghệ Thông tin, 2012) Lê, Minh TuyềnCơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý quản lý dân cư của một tỉnh là một cơ sở dữ liệu có tính chất vừa phân cấp, vừa phân nhóm, vừa theo không gian, vừa theo thời gian. Một tỉnh có 03 cấp quản lý bao gồm: cấp tỉnh, cấp quận/huyện, cấp phường/xã đây là yếu tố phân cấp đồng thời cũng là yếu tố không gian đơn vị hành chính quản lý. Dữ liệu về dân cư bao gồm các thuộc tính của một người dân sống tại Tỉnh, các thuộc tính này được gom nhóm để phù hợp với Ban/ngành quản lý của tỉnh; Mỗi yếu tố không gian tồn tại với một thời điểm xác định và tương tự các thuộc tính dân cư cũng tồn tại theo thời điểm đó. Vì tính chất vừa phân cấp, vừa phân nhóm, vừa theo không gian, vừa theo thời gian tạo nên cơ sở dữ liệu đa chiều do đó việc kiểm soát truy cập là yếu tố cần thiết và đang được nghiên cứu trong luận án tiến sĩ.