Logo của kho lưu trữ
  • Đăng nhập
    Có phải bạn quên mật khẩu?
  • ...
  • ...
  • Đăng nhập
    Có phải bạn quên mật khẩu?
  • ...
  • ...
  • Bộ sưu tập
  • Thực thể
    Duyệt theo
  • Trợ giúp
  • Liên hệ
  1. Trang chủ
  2. Duyệt theo tác giả

Duyệt

  • Đơn vị & Bộ sưu tập
  • Năm xuất bản
  • Tác giả
  • Nhan đề
  • Chủ đề
  • Kiểu tài liệu
  • Topic

Hồ sơ tác giả

  • GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân (113)
  • PGS.TS. Hà Minh Hồng (13)
  • PGS. TS. Nguyễn Thị Hiệp (1)

Topic

  1. Trang chủ
  2. Duyệt theo tác giả

Duyệt theo Tác giả "..."

Duyệt theo:
0-9
A
B
C
D
E
F
G
H
I
J
K
L
M
N
O
P
Q
R
S
T
U
V
W
X
Y
Z
Hoặc nhập chữ cái đầu tiên:
Đang hiển thị 1 - 11 của tổng số 11 kết quả
Hiển thị
Số kết quả/trang
Tùy chọn sắp xếp
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    ANTI-INFLAMMATORY PROPERTIES OF AMOMUM MAXIMUM ROXB AND AMOMUM MURICARPUM ELMER IN THE NORTH OF VIETNAM
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-04) Pham, Anh Thư; Nguyen, Hoang Son; Le, Thanh Huong; ...
    Inflammation, which is classified into acute and chronic stage, is a vital biological process responding to eliminate detrimental agents such as radiation, pathogens, and damaged cells. Cell membranes, in the presence of inflammatorystimuli, cause the release of phospholipase A2, arachidonic acid, and other inflammatory mediators such as cytokines, prostaglandins, and leukotrienes, inducing the migration of leukocytes to inflammation (Mollace et al., 2005). Amomum maximum Roxb and Amomum muricarpum Elmer distributed widely in Vietnam have been used in traditional medicine for treatment of some gastrointestinal diseases. This study aimed to investigate the anti-inflammatory effects of the methanol extracts of A. maximum (AMM) and A. muricarpum Elmer (AMC) in murine macrophage RAW 264.7 cell line.This study demonstrated that AMC simultaneously attenuated the expression of iNOS and COX-2 at concentration-dependent manner of 6.25, 12.5, and 25 μg/mL (Fig. 2); tubulin was used as loading control. COX-2 inhibition was observed to be significant. At the concentration of 25 μg/mL, AMC suppressed the generation of COX-2 to a greater extent than in control, as a result of previously activated macrophages in the control sample. Similarly, the expression of iNOS was decreased in the same trend as seen for COX-2. These results suggested that AMC may follow the mechanism of iNOS and COX-2 co-regulation. only. In conclusion, AMM and AMC root extracts might be potential candidates for a study of naturally alternative anti-inflammatory drugs.
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    FIRST RECORD OF THE GENUS Leptophion Cameron (Hymenoptera: Ichneumonidae: Ophioninae) FROM VIETNAM
    (Vietnam Academy of science and technology, 2021-03) Pham, Thi Nhi; Khuat, Dang Long; Cao, Thi Kim Thu; ...
    The genus Leptophion is recorded for the first time from Vietnam, including new records of three species, viz. L. giganteus Shimizu & Watanabe, L. maculipennis (Cameron) and L. radiatus(Uchida), for the country. The comparative morphological and pictorial characters of Vietnamese specimens were given. In addition, variations and in-country distribution of newly recorded species were also provided.
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    IRON-REDUCING b- AND g-PROTEOBACTERIA ISOLATED FROM LABORATORY-SCALED HETEROTROPHIC FEAMMOX BIOREACTOR
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-04) Le, Phuong Chung; Nguyen, Thi Hai; Nguyen, Huynh Minh Quyen; ...
    Ammonium removal from wastewater is a crucial step in wastewater treatment. Presently employed technologies based on nitrification/denitrification and partial nitritation/anammox principles require oxygen for the nitrification step, and are therefore still not yet fully satisfied with the application practice. In recent years, biological ammonium oxidation coupled with ferric iron reduction (feammox) has been proposed to be responsible for the nitrogen loss in different ecological habitats. Related to the wastewater aspect, the feammox principle has been discussed as an alternative approach for ammonium removal without dependency on oxygen. From a laboratory-scaled feammox bioreactor operated under neutral pH, two bacterial strains FN7 and FN9 were isolated by using the anaerobic Hungate technique. Comparative analyses of 16S rDNA sequences showed that these strains were most closely related to the b-proteobacterium Aciclyphilus denitrificans and the g- proteobacterium Pseudomonas stutzeri, respectively. Although being phylogenetically apart, strains FN7 and FN9 shared several common physiological characteristics that are considered meaningful for the feammox process, i.e. (i) heteroptrophic ammonium oxidation, (ii) denitrification, and (iii) ferric iron reduction. These isolates are proposed to play certain roles in the studied feammox system, contributing to the ammonium removal under heterotrophic feammox condition. The 16S rDNA sequences of strains FN7 and FN9 were available in GenBank under the accession numbers LC474369 and MT568614, respectively.
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN CÁC DÒNG SƠN TA (RHUS SUCCEDANEA L.) Ở VÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM BẰNG CHỈ THỊ SSR VÀ SCOT
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-07) Nguyễn, Hồng Chiên; Nguyễn, Thị Kim Linh; Trịnh, Thị Kim Mỹ; ...
    Cây sơn (Rhus succedanea L.) được trồng để lấy nhựa sơn, nguồn nguyên liệu quý rất cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp và thủ công nghiệp. Việc khảo sát, đánh giá kiểu hình cũng như kiểu gen là cần thiết nhằm tăng hiệu quả cho quá trình chọn tạo giống mới. Trong nghiên cứu này, mối quan hệ di truyền ở mức độ phân tử của 90 mẫu sơn ta thu thập ở ba xuất xứ Tam Nông, Thanh Sơn (Phú Thọ) và Chiêm Hóa (Tuyên Quang) được phân tích bằng các chỉ thị SSR và ScoT. Kết quả cho thấy có sự đa dạng lớn trong số những cá thể nghiên cứu, hệ số tương đồng di truyền từ 0,41 đến 0,98. Nhóm mẫu thu thập được ở Chiêm Hóa có sự khác biệt đáng kể với nhóm mẫu thu thập được ở Tam Nông. Các cặp mẫu có mức độ tương đồng di truyền cao, ở mức 0,95 đến 0,98, hầu hết là những cặp mẫu có cùng nguồn gốc địa lý. Mức độ tương đồng cao của những cặp mẫu này có khả năng do tập quán tuyển chọn hạt từ những cây sơn có năng suất cao để làm hạt giống của những người trồng sơn. Kết quả thu được trong nghiên cứu này có thể cung cấp những dẫn liệu cần thiết phục vụ cho công tác chọn tạo giống sơn mới.
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ NUÔI SINH KHỐI LOÀI VI TẢO LỤC (NANNOCHLORIS ATOMUS) PHÂN LẬP TẠI VIỆT NAM CHO TÁCH CHIẾT CÁC CHẤT CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-07) Lưu, Thị Tâm; Ngô, Thị Hoài Thu; Nguyễn, Thị Minh Hằng; ...
    Vi tảo được biết đến là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho nhiều đối tượng nuôi trồng thủy, hải sản và là nguyên liệu tiềm năng để khai thác các chất có hoạt tính sinh học cao cho con người. Các kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học và nuôi đủ sinh khối tảo cho tách chiết các hợp chất có giá trị từ vi tảo lục Nannochloris atomus là hoàn toàn mới ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này, dựa trên đặc điểm hình thái và trình tự gen 18S rRNA, tên khoa học chính xác của chủng Nannochloris sp. NT12 đã được định tên và thuộc về loài N. atomus có độ tương đồng đạt 99,7% so với loài N. atomus CCAP251.7 (AB080303.1) và đã được cấp mã số trên ngân hàng gen là MW007766. Chủng vi tảo biển này sinh trưởng tốt nhất dưới điều kiện với môi trường Walne, mật độ tế bào ban đầu 3 x 106 tế bào/mL, nhiệt độ 25 - 30oC, cường độ ánh sáng 60 - 100 μmol/m2 s, pH = 7,0, độ mặn 30‰, với giá trị mật độ tế bào tảo đạt cao nhất là 30 x 106 tế bào/mL sau 30 ngày nuôi cấy. Sinh khối chủng N. atomus NT12 nuôi ở quy mô pilot (trong bình nhựa 10 L và hệ thống nuôi kín bể phản ứng quang sinh 20 - 50 L) cũng đạt năng suất cao (209 mg/L/ngày) và giàu các acid béo không bão hòa đa nối đôi như oleic acid (C18:1n-9), linoleic (C18:2n-6) và α-linolenic (C18:3n-3), đảm bảo chất lượng cho tách chiết các hợp chất có giá trị sinh học quý.
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DỮ LIỆU LỚN VỀ HỆ GEN SINH VẬT VÀ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-07) Lê, Thị Thu Hiền; Nguyễn, Tường Vân; Kim, Thị Phương Oanh; ...
    Hiện nay, nghiên cứu và phân tích dữ liệu lớn về hệ gen sinh vật được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực và có tác động lớn đến đời sống xã hội trên quy mô toàn cầu. Nhờ sự ra đời của các công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới, hệ gen sinh vật có thể nhanh chóng được xác định. Nhiều quốc gia đã chú trọng đến thúc đẩy và đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng dữ liệu hệ gen. Các dự án lớn về hệ gen người, động vật, thực vật, vi sinh vật đã và đang được mạng lưới các nhà khoa học thuộc chuyên ngành công nghệ gen, tin sinh học, sinh học tính toán, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo thuộc các tổ chức khoa học công nghệ quốc gia hoặc nhiều quốc gia, độc lập hoặc hợp tác triển khai thực hiện. Những nguồn dữ liệu khổng lồ được xây dựng, lưu trữ, quản lý và khai thác hiệu quả. Việt Nam đã ưu tiên đầu tư và phát triển hướng nghiên cứu hệ gen thông qua thành lập các đơn vị chuyên trách cũng như triển khai nghiên cứu hệ gen người và các sinh vật đặc hữu của Việt Nam. Bài viết này tổng quan về: Các công nghệ sử dụng để tạo ra dữ liệu lớn về hệ gen; Một số dự án nghiên cứu và xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về hệ gen trên thế giới; Nghiên cứu phát triển dữ liệu lớn về hệ gen ở một số quốc gia và ở Việt Nam; Khai thác và ứng dụng dữ liệu lớn về hệ gen trong các lĩnh vực y dược học phục vụ chăm sóc sức khỏe con người, nông - lâm nghiệp, an toàn thực phẩm và môi trường.
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    NGHIÊN CỨU THIẾT LẬP QUY TRÌNH TẠO BỘ SINH PHẨM IN-HOUSE LEPTO- LAT TRONG SÀNG LỌC PHÁT HIỆN NHIỄM LEPTOSPIRA
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-07) Lê, Thị Lan Anh; Vũ, Thị Thương; Phạm, Thị Hà Giang; ...
    Leptospirosis là bệnh truyền từ động vật sang người phổ biến ở các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Người nhiễm Leptospira không được điều trị sẽ dẫn đến thoái hóa nặng kèm theo tổn thương thận và/hoặc gan cũng như xuất huyết phổi nặng dẫn đến tử vong. Bên cạnh phương pháp chuẩn vàng MAT, sử dụng các kháng nguyên của Leptospira bằng công nghệ DNA tái tổ hợp đã và đang được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán nhiễm Leptospira trên người và động vật. Khắc phục được nhược điểm của MAT và ELISA như quy trình phức tạp, đòi hỏi cán bộ có chuyên môn cao và trang thiết bị chuyên dụng đi kèm, phương pháp ngưng kết hạt latex đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trên thế giới trong phát hiện các tác nhân gây bệnh như Salmonella, E. coli, Leptospira. Ưu điểm của phương pháp này là độ nhạy, độ đặc hiệu cao, thao tác đơn giản, nhanh chóng và rẻ tiền, có thể áp dụng được tại các cơ sở y tế của địa phương. Trong nghiên cứu trước, kháng nguyên LigB của Leptospira đã được biểu hiện trong tế bào E. coli và tinh sạch thành công bằng sắc ký ái lực với độ sạch trên 98%. Trong bài báo này, chúng tôi trình bày quy trình tạo kit Lepto-LAT để phát hiện nhiễm Leptospira trên chó nghi nhiễm Leptospira. Kết quả thử nghiệm cho thấy kit này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao lần lượt là 91,75% và 91,57%, tương đương hoặc cao hơn các nghiên cứu trên thế giới.
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN VI KHUẨN ỨC CHẾ STREPTOCOCCUS AGALACTIAE GÂY BỆNH THÂN ĐEN TRÊN CÁ SẶC RẰN (TRICHOGASTER PECTORALIS)
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-07) Lê, Thị Ánh Hồng; Phạm, Thị Minh Ngọc; Dương, Khánh; ...
    Vi khuẩn Streptococcus agalactiae là một trong những tác nhân gây nên bệnh thân đen trên cá Sặc rằn (Trichogaster pectoralis) làm ảnh hưởng đến sự phát triển và chất lượng cá. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập và tuyển chọn vi khuẩn có khả năng ức chế S. agalactiae, có thể ứng dụng để kiểm soát vi khuẩn gây bệnh thân đen thay thế cho việc sử dụng kháng sinh. Từ các mẫu cá Sặc rằn khỏe, mẫu bùn và nước ao nuôi cá tại Đồng Tháp, các tác giả đã phân lập và sàng lọc được 14 chủng, tuyển chọn được chủng L7 có khả năng ức chế cao nhất có đường kính vòng vô khuẩn 9,3 ± 0,57 mm. Chủng tuyển chọn được định danh bằng phương pháp sinh học phân tử giải trình tự gen vùng 16S rRNA, tra cứu trên Ngân hàng Gen (NCBI) có kết quả tương đồng với loài Bacillus subtilis. Thí nghiệm đánh giá khả năng ức chế S. agalactiae của vi khuẩn B. sutilis phân lập được trong điều kiện thực nghiệm cho thấy ở nghiệm thức đối chứng, cá sau khi được gây nhiễm với S. agalactiae ở mật độ 106 CFU/mL có tỷ lệ sống 41,7%. Các nghiệm thức thí nghiệm NT1, NT2, NT3 cá được gây nhiễm với S. agalactiae và xử lý với vi khuẩn B. subtilis ở mật độ 105 CFU/mL, 106 CFU/mL và 107 CFU/mL có tỷ lệ sống cao hơn so với nghiệm thức đối chứng không được xử lý B. subtilis và tỷ lệ lần lượt là 60%, 76,7% và 81,7%. Từ kết quả này có thể hướng tới tiềm năng sử dụng vi khuẩn B. subtilis phân lập được để phòng, kháng bệnh thân đen trên cá Sặc rằn.
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    PHÂN LẬP, SÀNG LỌC VÀ ĐỊNH DANH MỘT SỐ CHỦNG XẠ KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG KHÁNG VI SINH VẬT KIỂM ĐỊNH VÀ GÂY ĐỘC TẾ BÀO TỪ CÁC MẪU TRẦM TÍCH VÙNG BIỂN VŨNG ÁNG TẠI HÀ TĨNH
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-07) Vũ, Thị Quyên; Vũ, Thị Thu Huyền; Nguyễn, Mai Anh; ...
    Xạ khuẩn được nghiên cứu nhiều do khả năng sinh ra các hợp chất thứ cấp có giá trị ứng dụng cao, đặc biệt là khả năng sinh kháng sinh của chúng. Hơn 40% kháng sinh được tìm ra đều có nguồn gốc từ xạ khuẩn trong đó chi Streptomyces chiếm ưu thế. Hơn nữa, xạ khuẩn biển trong những năm gần đây được quan tâm nhiều nhờ có khả năng sinh các chất có hoạt tính sinh học có khả năng cung cấp các cấu trúc hoá học đa dạng và mới lạ. Trong nghiên cứu này từ 8 mẫu trầm tích biển thu thập ở vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh), các tác giả đã phân lập được 20 chủng xạ khuẩn bằng bảy loại môi trường khác nhau (A1, M1, SWA, SCA, NZSG, ISP1, ISP2). Các chủng được lên men trong môi trường A1+, dịch lên men được chiết 5 lần với ethyl acetate, thu hồi cặn chiết và xác định hoạt tính kháng khuẩn và gây độc tế bào. Từ kết quả sàng lọc đã chọn được 2 chủng có hoạt tính kháng khuẩn cao nhất và có khả năng gây độc tế bào cao nhất ký hiệu là: HT03 và HT06. Cả 2 chủng đều có hoạt tính đối kháng với Enterococcus faecalis ATCC29212 (MICHT03= 32 μg/mL, MICHT06= 16 μg/mL), Stapphylococus aureus ATCC25923 (MICHT03= 64 μg/mL, MICHT06= 32 μg/mL) và Bacillus cereus ATCC 13245 (MIC= 16 μg/mL). Ngoài ra 2 chủng HT03 và HT06 còn có khả năng ức chế khá mạnh nấm men Candida albicans ATCC10231 với MICHT03= 16 μg/mL, MICHT06= 8 μg/mL. Đặc biệt hai chủng HT03 và HT06 đều thể hiện hoạt tính gây độc rất tốt trên cả 5 dòng tế bào ung thư (tế bào ung thư vú MCF-7; MDA-MB-231; tế bào ung thư phổi NCI-H1975; tế bào ung thư cổ tử cung HeLa; tế bào ung thư dạ dày AGS) ở cả hai nồng độ thử nghiệm 30 μg/mL và 100 μg/mL. Hai chủng đã được nghiên cứu các đặc điểm hình thái nuôi cấy và phân tích trình tự gen 16S rRNA, kết quả cho thấy chủng HT03 thuộc loài Streptomyces fradiae có độ tương đồng 99,93% với chủng Streptomyces fradiae ATCC và chủng HT06 thuộc loài Nocardiopsis synnemataformans có độ tương đồng 99,89% với chủng chuẩn của Nhật Bản Nocardiopsis synnemataformans DSM 44143 (NBRC 102581).
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    PRODIGIOSIN PURIFICATION FROM SERRATIA MARCESCENS M10 AND ITS ANTITUMOR ACTIVITIES
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-04) Vu, Trong Luong; Nguyen, Sy Le Thanh; Do, Thi Tuyen; ...
    Prodigiosin (Pg) is a member of family of natural red pigments which is called prodiginines. Pg is a secondary metabolite biosynthesized by various bacterial species in both gram-negative and gram-positive groups such as S. marcescens, H. chejuensis, P. magnesiorubra, V. psychroerythreus...In this study, purified Pg from solid fermentation of S. marcescens M10 strain and assessed its anticancer activity in tumorized mice. The results showed that Pg was purified by running through a silicagel 60 column with a suitable solvent system of n-hexane:toluene at the rate of 1:1 (v/v) combined with toluene:ethyl acetate at the rate of 9:1 (v/v). TLC plate was used to test the presence of active substances with separation solvent n-hexane:ethyl acetate ratio of 1:1 (v/v). The purity of fractions tested by high performance liquid chromatography method showed as 98%. Purified fractions also showed promising anti-tumor activity in Lewis lung carcinoma induced tumors in BALB/c mice. The tumor volumes in Pg treated groups decreased by 34.18% after 28 days of administration.
  • Đang tải...
    Hình ảnh thu nhỏ
    Ấn phẩm
    SẢN XUẤT CÂY DÂU TÂY (Fragaria × ananassa) IN VITRO TRONG HỆ THỐNG NUÔI CẤY QUY MÔ LỚN CÓ BỔ SUNG NANO BẠC
    (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2021-07) Trần, Thị Thương; Hoàng, Thanh Tùng; Hoàng, Đắc Khải; ...
    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Dâu tây ở giai đoạn ra rễ trên môi trường nuôi cấy có bổ sung nano bạc (AgNPs) cũng như sự biến động của khí ethylene trong bình nuôi cấy. Ngoài ra, các hệ thống nuôi cấy khác nhau lần đầu tiên được sử dụng để sản xuất cây Dâu tây ở quy mô lớn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chồi in vitro có kích thước 3 cm nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 0,02 mg/L NAA, 1 g/L than hoạt tính, 30 g/L sucrose, 8 g/L agar và 0,5 mg/L AgNPs cho thời gian ra rễ sớm hơn khoảng 4 ngày và các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây (5,60 cm), khối lượng tươi (242,67 mg), khối lượng khô (34,67 mg), số rễ/cây (6,67), chiều dài rễ (3,40 cm), SPAD (39,30 nmol/cm2 ) cao hơn so với đối chứng sau 15 ngày nuôi cấy. Bên cạnh đó, bổ sung 0,5 mg/L AgNPs làm giảm hàm lượng khí ethylene trong bình nuôi cấy (0,06 ppm) so với đối chứng (0,15 ppm) sau 15 ngày nuôi cấy. Với mật độ 10 cây/bình nuôi cấy thủy tinh (250 mL) với 40 mL môi trường cho hiệu quả sinh trưởng tối ưu hơn so với các mật độ nuôi cấy chồi khác sau 15 ngày nuôi cấy. Hệ thống nuôi cấy hộp nhựa hình vuông (dài × rộng × cao: 19 cm × 19 cm × 7 cm; thể tích 2,5 L) chứa 250 mL môi trường MS bổ sung 0,5 mg/L AgNPs có thể sản xuất được 100 cây giống khỏe mạnh; trong khi đó, hệ thống hộp nhựa hình chữ nhật (34 cm × 23 cm × 13 cm; thể tích 10 L) có thể sản xuất 200 cây giống. Những cây con có nguồn gốc nuôi cấy trên môi trường chứa 0,5 mg/L AgNPs trong hệ thống nuôi cấy hộp nhựa cho khả năng thích nghi và sinh trưởng tốt sau 30 và 60 ngày ở điều kiện vườn ươm.

Thư viện Trung tâm, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

  • Địa chỉ:Đường Võ Trường Toản, Khu đô thị ĐHQG-HCM, khu phố 33, phường Linh Xuân, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Điện thoại:(84-28) 37242160 (2311)     
  • Email:cenlib@vnuhcm.edu.vn