700845



ABSTRACTS VIEWS

101210



VIEWS & DOWNLOAD
 GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân
Qualification: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học
Fields/Area of Specialization: Khoa học Kỹ thuật; Giáo dục và Đào tạo; Quy hoạch
NGUYỄN NGỌC TRÂN, sinh ngày 06.01.1940, quê quán ở An Giang, sang Pháp du học năm 1959, tốt nghiệp Tiến sĩ cấp ba (1963), Tiến sĩ nhà nước khoa học (1970) tại Đại học Sorbonne, là nghiên cứu viên tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS), giáo sư Đại học Poitiers trước khi về Việt Nam năm 1976. Khi còn ở Pháp ông là Tổng thư ký của Hội Liên hiệp Trí thức Việt Nam tại Pháp, và Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp. Từ khi về nước, ông lần lượt giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, là Phó Chủ nhiệm Khoa, Phó Hiệu trưởng trường, được phong Giáo sư năm 1980; đảm nhiệm các chức vụ Phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Trưởng ban Việt kiều trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Chính phủ (1992-1996), Phó chủ tịch Ủy ban quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội (1996-1997), Đại biểu Quốc Hội (1992-2007), Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Đối ngoại của Quốc hội (1997-2007). Ông là đồng Chủ tịch năm phiên họp của Ủy ban hỗn hợp liên chính phủ Việt Nam – Pháp về hợp tác văn hóa, khoa học và kỹ thuật, từ 1982 đến 1992, đã ký kết các dự án thành lập Trung tâm Dịch vụ Phân tích và Thực nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hợp tác giữa INP Grenoble với ba trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; thành lập Trung tâm đào tạo Pháp – Việt về Quản lý (CFVG), và Chương trình đào tạo bác sĩ FFI (Faisant Fonction d’Interne). Ông đã được Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp cử làm Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp Nhà nước "Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long" (1983-1990). Ban Việt kiều Trung ương đã tổ chức Hội nghị Việt Kiều Xuân Quý Dậu 1993, đã cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị chuyên đề Giáo dục đại học Việt Nam trước thách thức của thế kỹ XXI Xuân Giáp Tuất. Năm 1994 Ban Việt Kiều Trung ương được tổ chức lại thành Ủy Ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Chính phủ. Ông là Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (Assemblée Parlementaire de la Francophonie), và được bầu là Phó chủ tịch của Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (1997-2007). Ông là ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (1977-1994), là ủy viên rồi chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (1992 -2017). Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao Động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, Huy chương vì Sự nghiệp Khoa học và Công nghệ, Huy chương vì Thế hệ trẻ, Kỷ niệm chương của Bộ Ngoại giao. Ông đã nhận được những tặng thưởng nước ngoài: Officier de la Légion d’Honneur của Cộng hòa Pháp, Huân chương Lao động hạng Nhất của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Commandeur rồi Grand Officier de la Pléiade, Ordre de la Francophonie. Từ khi nghỉ hưu theo chế độ năm 2008, ông trở về với hoạt động khoa học. Các lĩnh vực ông quan tâm là Giáo dục và đào tạo, Biến động của vùng Đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các đập thủy điện ở thượng nguồn, và Phát triển bền vững của đồng bằng.

Kết quả tìm kiếm từ 1 đến 10 trong 67 kết quả

  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-12-28)

    Vòng xoáy “khan hiếm nước ngọt – khai thác nước ngầm – sụt lún đất – xâm nhập mặn” đang gây sụt lún đồng bằng sông Cửu Long. Để người dân yên tâm “bám trụ”, vấn đề cốt lõi là có nước ngọt cho sinh hoạt. Tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và lọc nước mặn thành nước ngọt mở ra triển vọng Côn Đảo là nơi sản xuất và cung ứng nước ngọt cho vùng mặn của đồng bằng.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-12-18)

    Bài tham luận điểm lại năm vấn đề toàn cầu hiện nay, Biến đổi khí hậu, Khan hiếm nước ngọt và an ninh nguồn nước, Đại dịch Covid 19, Tự do hóa thương mại và Toàn cầu hóa kinh tế, Phân hóa giàu nghèo; chỉ ra là chúng đã được cảnh báo trước, tương tác với nhau và tác động liên hoàn nên diễn biến khó lường. Vai trò và trách nhiệm của con người được nhấn mạnh. Trong bối cảnh đó, Đồng bằng sông Cửu Long đứng trước nguy cơ bị xâm thực và lún chìm. Hệ sinh thái ngập nước và rừng tràm cũng như rừng ngập mặn mất đi trên diện rộng. Nền kinh tế ở đồng bằng vẫn hoạt động riêng lẻ theo tỉnh. Kinh tế vùng vẫn còn ở thì tương lai. Đóng góp nhiều cho cả nước, đồng bằng nhận được đầu tư chưa tương x...
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-11-23)

    Trạm Sông Đốc là một trạm thủy văn cửa sông ven bờ Biển Tây. Bài viết tiếp tục khảo sát mực nước tại trạm Ông Đốc đã được trình bày trong báo cáo khoa học 2 với chuỗi số liệu kéo dài đến 31/12/2020. Sự biến động của mực nước giờ, của các mực nước đặc trưng (MNĐT) ngày, tháng, năm, tại một số lát cắt trong chuỗi số liệu 25 năm được bài viết phân tích. Sau cùng là phần thảo luận và đề xuất một số vấn đề có liên quan đến bờ Biển Tây và Bán đảo Cà Mau.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-10-18)

    Trạm thủy văn Năm Căn không phải là một trạm ven biển nhưng mực nước ở đây có ý nghĩa quan trọng và độc đáo bởi vị trí địa lý của Năm Căn. Bài viết đi sâu và mở rộng khảo sát sự biến động của mực nước tại trạm Năm Căn đã trình bày trong báo cáo khoa học 2. Sự biến động của mực nước giờ, của các mực nước đặc trưng (MNĐT) ngày, tháng, 6 tháng, năm, tại một số lát cắt trong chuỗi số liệu 33 năm, và so sánh mực nước giờ trạm Năm Căn với trạm Gành Hào là những nội dung được phân tích. Sau cùng là phần thảo luận và đề xuất về những vấn đề liên quan đến mực nước cần thiết cho sự hiểu biết môi trường tự nhiên và cho sự phát triển của vùng đất cực Nam của Tổ quốc.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-09-20)

    Như mọi châu thổ sông, ĐBSCL là địa bàn của sự tương tác sông - biển. Vùng cửa sông là giao diện của sự tương tác này. Tại hội nghị khoa học ICEC 2018 tại Caen (Pháp), tác giả đã có bài tham luận về biến động của các mực nước đặc trưng tại 9 trạm thủy văn ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1988 đến năm 2016. Nay đã có thêm bốn năm số liệu từ 2017 đến 2020. Bài viết này cập nhật các kết luận và đi sâu vào các vấn đề đã được nêu lên, đặc biệt làm rõ xu hướng biến động trong những năm gần đây tại năm trạm thủy văn ven Biển Đông ở đồng bằng sông Cửu Long, đóng góp vào hiểu biết về sự tương tác sông-biển tại địa bàn.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-08-23)

    Trong bài viết Luồng hàng hải Trần Đề, cần khách quan và tôn trọng quy luật 2, tác giả cho rằng việc công bố luồng hàng hải Trần Đề từ phao “0” đến phao “32” còn quá sớm trong tình hình số liệu hiện nay, cả ở đoạn biển cả ở đoạn bên trong đất liền. Cần hết sức khách quan và tôn trọng quy luật khi quyết định về luồng hàng hải Trần Đề. Bài viết này, trên cơ sở một tài liệu tiếp nhận được sau khi bài viêt được đăng tải, phân tích tiếp sự biến động của đáy sông Hậu dọc luồng hàng hải Trần Đề từ cửa sông Cồn Tròn đến chỗ kết nối với luồng Định An, tháng 11/2009 so với tháng 6/2021. Dù hạn về không gian chỉ giới hạn ở tuyến luồng, bài viết chỉ ra ở những vị trí nào dọc theo luồng, đáy luồ...
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-08-06)

    Luồng hàng hải Trần Đề là một luồng đang được Cục Hàng hải Việt Nam xúc tiến xác lập. Những đặc điểm của Sông Hậu nhánh Trần Đề đã được đề cập 2, bài viết này xem xét luồng hàng hải Trần Đề nhằm cung cấp thông tin qua đó góp phần vào việc đánh giá khách quan tính khả thi và bền vững của luồng. Dịch chuyển đứng và dịch chuyển ngang của các điểm độ sâu cạn nhất, nhận xét và trao đổi, và sau cùng đề xuất và khuyến nghị, là nôi dung của bài viết. Ảnh vệ tinh và số liệu của các Thông báo Hàng hải (TBHH) của Tổng Công ty Bảo đảm An toàn Hàng hải miền Nam thuộc Bộ Giao thông vận tải là những cứ liệu có được để phân tích.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-07-30)

    Ngày hôm nay, 29 tháng 7, đúng 45 năm trước, trong lúc cùng gia đình nghỉ hè ở miền Nam nước Pháp, tôi nhận được điện tín từ Đại sứ quán gọi gấp về Paris. Có điện từ trong nước đề nghị tôi thu xếp về cho kịp năm học mới 1976 – 1977. Từ đây cuộc đời gia đình chúng tôi rẽ sang một bước ngoặc lớn. Nhớ lại quảng đường 45 năm qua có nhiều điều để viết nhưng tôi muốn ghi lại những lời dặn dò tôi mãi mãi ghi nhớ từ hai đồng chí vì sự chân tình, chan chứa yêu thương đồng thời vô cùng thiết thực và đã để lại dấu ấn trong cuộc đời hoạt động của tôi.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-07-26)

    Diễn tiến từ ba cửa sông chỉ còn lại hai, Định An và Trần Đề, cũng như quá trình hình thành Cù lao Dung đã được trình bày trong bài viết Sông Hậu và các cửa sông Định An, Bassac và Trần Đề 2. Bài viết này khảo sát nhánh Trần Đề của sông Hậu. Ngoài ý nghĩa khoa học hiểu biết về nhánh sông, bài viết nhằm cung cấp những thông tin có thể cần cho việc theo dõi và đánh giá tính khả thi của luồng hàng hải đi qua cửa và nhánh Trần Đề mà ngành giao thông vận tải đang xác lập. Ảnh vệ tinh và số liệu của các mặt cắt ngang đo năm 2009 là những cứ liệu cho việc phân tích.
 GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân
author picture
Qualification: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học
Fields/Area of Specialization: Khoa học Kỹ thuật; Giáo dục và Đào tạo; Quy hoạch
NGUYỄN NGỌC TRÂN, sinh ngày 06.01.1940, quê quán ở An Giang, sang Pháp du học năm 1959, tốt nghiệp Tiến sĩ cấp ba (1963), Tiến sĩ nhà nước khoa học (1970) tại Đại học Sorbonne, là nghiên cứu viên tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS), giáo sư Đại học Poitiers trước khi về Việt Nam năm 1976. Khi còn ở Pháp ông là Tổng thư ký của Hội Liên hiệp Trí thức Việt Nam tại Pháp, và Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp. Từ khi về nước, ông lần lượt giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, là Phó Chủ nhiệm Khoa, Phó Hiệu trưởng trường, được phong Giáo sư năm 1980; đảm nhiệm các chức vụ Phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Trưởng ban Việt kiều trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Chính phủ (1992-1996), Phó chủ tịch Ủy ban quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội (1996-1997), Đại biểu Quốc Hội (1992-2007), Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Đối ngoại của Quốc hội (1997-2007). Ông là đồng Chủ tịch năm phiên họp của Ủy ban hỗn hợp liên chính phủ Việt Nam – Pháp về hợp tác văn hóa, khoa học và kỹ thuật, từ 1982 đến 1992, đã ký kết các dự án thành lập Trung tâm Dịch vụ Phân tích và Thực nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hợp tác giữa INP Grenoble với ba trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; thành lập Trung tâm đào tạo Pháp – Việt về Quản lý (CFVG), và Chương trình đào tạo bác sĩ FFI (Faisant Fonction d’Interne). Ông đã được Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp cử làm Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp Nhà nước "Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long" (1983-1990). Ban Việt kiều Trung ương đã tổ chức Hội nghị Việt Kiều Xuân Quý Dậu 1993, đã cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị chuyên đề Giáo dục đại học Việt Nam trước thách thức của thế kỹ XXI Xuân Giáp Tuất. Năm 1994 Ban Việt Kiều Trung ương được tổ chức lại thành Ủy Ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Chính phủ. Ông là Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (Assemblée Parlementaire de la Francophonie), và được bầu là Phó chủ tịch của Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (1997-2007). Ông là ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (1977-1994), là ủy viên rồi chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (1992 -2017). Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao Động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, Huy chương vì Sự nghiệp Khoa học và Công nghệ, Huy chương vì Thế hệ trẻ, Kỷ niệm chương của Bộ Ngoại giao. Ông đã nhận được những tặng thưởng nước ngoài: Officier de la Légion d’Honneur của Cộng hòa Pháp, Huân chương Lao động hạng Nhất của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Commandeur rồi Grand Officier de la Pléiade, Ordre de la Francophonie. Từ khi nghỉ hưu theo chế độ năm 2008, ông trở về với hoạt động khoa học. Các lĩnh vực ông quan tâm là Giáo dục và đào tạo, Biến động của vùng Đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các đập thủy điện ở thượng nguồn, và Phát triển bền vững của đồng bằng.
Showing results [1 - 10] / 67
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-12-28)

    Vòng xoáy “khan hiếm nước ngọt – khai thác nước ngầm – sụt lún đất – xâm nhập mặn” đang gây sụt lún đồng bằng sông Cửu Long. Để người dân yên tâm “bám trụ”, vấn đề cốt lõi là có nước ngọt cho sinh hoạt. Tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và lọc nước mặn thành nước ngọt mở ra triển vọng Côn Đảo là nơi sản xuất và cung ứng nước ngọt cho vùng mặn của đồng bằng.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-12-18)

    Bài tham luận điểm lại năm vấn đề toàn cầu hiện nay, Biến đổi khí hậu, Khan hiếm nước ngọt và an ninh nguồn nước, Đại dịch Covid 19, Tự do hóa thương mại và Toàn cầu hóa kinh tế, Phân hóa giàu nghèo; chỉ ra là chúng đã được cảnh báo trước, tương tác với nhau và tác động liên hoàn nên diễn biến khó lường. Vai trò và trách nhiệm của con người được nhấn mạnh. Trong bối cảnh đó, Đồng bằng sông Cửu Long đứng trước nguy cơ bị xâm thực và lún chìm. Hệ sinh thái ngập nước và rừng tràm cũng như rừng ngập mặn mất đi trên diện rộng. Nền kinh tế ở đồng bằng vẫn hoạt động riêng lẻ theo tỉnh. Kinh tế vùng vẫn còn ở thì tương lai. Đóng góp nhiều cho cả nước, đồng bằng nhận được đầu tư chưa tương x...
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-11-23)

    Trạm Sông Đốc là một trạm thủy văn cửa sông ven bờ Biển Tây. Bài viết tiếp tục khảo sát mực nước tại trạm Ông Đốc đã được trình bày trong báo cáo khoa học 2 với chuỗi số liệu kéo dài đến 31/12/2020. Sự biến động của mực nước giờ, của các mực nước đặc trưng (MNĐT) ngày, tháng, năm, tại một số lát cắt trong chuỗi số liệu 25 năm được bài viết phân tích. Sau cùng là phần thảo luận và đề xuất một số vấn đề có liên quan đến bờ Biển Tây và Bán đảo Cà Mau.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-10-18)

    Trạm thủy văn Năm Căn không phải là một trạm ven biển nhưng mực nước ở đây có ý nghĩa quan trọng và độc đáo bởi vị trí địa lý của Năm Căn. Bài viết đi sâu và mở rộng khảo sát sự biến động của mực nước tại trạm Năm Căn đã trình bày trong báo cáo khoa học 2. Sự biến động của mực nước giờ, của các mực nước đặc trưng (MNĐT) ngày, tháng, 6 tháng, năm, tại một số lát cắt trong chuỗi số liệu 33 năm, và so sánh mực nước giờ trạm Năm Căn với trạm Gành Hào là những nội dung được phân tích. Sau cùng là phần thảo luận và đề xuất về những vấn đề liên quan đến mực nước cần thiết cho sự hiểu biết môi trường tự nhiên và cho sự phát triển của vùng đất cực Nam của Tổ quốc.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-09-20)

    Như mọi châu thổ sông, ĐBSCL là địa bàn của sự tương tác sông - biển. Vùng cửa sông là giao diện của sự tương tác này. Tại hội nghị khoa học ICEC 2018 tại Caen (Pháp), tác giả đã có bài tham luận về biến động của các mực nước đặc trưng tại 9 trạm thủy văn ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1988 đến năm 2016. Nay đã có thêm bốn năm số liệu từ 2017 đến 2020. Bài viết này cập nhật các kết luận và đi sâu vào các vấn đề đã được nêu lên, đặc biệt làm rõ xu hướng biến động trong những năm gần đây tại năm trạm thủy văn ven Biển Đông ở đồng bằng sông Cửu Long, đóng góp vào hiểu biết về sự tương tác sông-biển tại địa bàn.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-08-23)

    Trong bài viết Luồng hàng hải Trần Đề, cần khách quan và tôn trọng quy luật 2, tác giả cho rằng việc công bố luồng hàng hải Trần Đề từ phao “0” đến phao “32” còn quá sớm trong tình hình số liệu hiện nay, cả ở đoạn biển cả ở đoạn bên trong đất liền. Cần hết sức khách quan và tôn trọng quy luật khi quyết định về luồng hàng hải Trần Đề. Bài viết này, trên cơ sở một tài liệu tiếp nhận được sau khi bài viêt được đăng tải, phân tích tiếp sự biến động của đáy sông Hậu dọc luồng hàng hải Trần Đề từ cửa sông Cồn Tròn đến chỗ kết nối với luồng Định An, tháng 11/2009 so với tháng 6/2021. Dù hạn về không gian chỉ giới hạn ở tuyến luồng, bài viết chỉ ra ở những vị trí nào dọc theo luồng, đáy luồ...
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-08-06)

    Luồng hàng hải Trần Đề là một luồng đang được Cục Hàng hải Việt Nam xúc tiến xác lập. Những đặc điểm của Sông Hậu nhánh Trần Đề đã được đề cập 2, bài viết này xem xét luồng hàng hải Trần Đề nhằm cung cấp thông tin qua đó góp phần vào việc đánh giá khách quan tính khả thi và bền vững của luồng. Dịch chuyển đứng và dịch chuyển ngang của các điểm độ sâu cạn nhất, nhận xét và trao đổi, và sau cùng đề xuất và khuyến nghị, là nôi dung của bài viết. Ảnh vệ tinh và số liệu của các Thông báo Hàng hải (TBHH) của Tổng Công ty Bảo đảm An toàn Hàng hải miền Nam thuộc Bộ Giao thông vận tải là những cứ liệu có được để phân tích.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-07-30)

    Ngày hôm nay, 29 tháng 7, đúng 45 năm trước, trong lúc cùng gia đình nghỉ hè ở miền Nam nước Pháp, tôi nhận được điện tín từ Đại sứ quán gọi gấp về Paris. Có điện từ trong nước đề nghị tôi thu xếp về cho kịp năm học mới 1976 – 1977. Từ đây cuộc đời gia đình chúng tôi rẽ sang một bước ngoặc lớn. Nhớ lại quảng đường 45 năm qua có nhiều điều để viết nhưng tôi muốn ghi lại những lời dặn dò tôi mãi mãi ghi nhớ từ hai đồng chí vì sự chân tình, chan chứa yêu thương đồng thời vô cùng thiết thực và đã để lại dấu ấn trong cuộc đời hoạt động của tôi.
  • Authors: Nguyễn, Ngọc Trân (2021-07-26)

    Diễn tiến từ ba cửa sông chỉ còn lại hai, Định An và Trần Đề, cũng như quá trình hình thành Cù lao Dung đã được trình bày trong bài viết Sông Hậu và các cửa sông Định An, Bassac và Trần Đề 2. Bài viết này khảo sát nhánh Trần Đề của sông Hậu. Ngoài ý nghĩa khoa học hiểu biết về nhánh sông, bài viết nhằm cung cấp những thông tin có thể cần cho việc theo dõi và đánh giá tính khả thi của luồng hàng hải đi qua cửa và nhánh Trần Đề mà ngành giao thông vận tải đang xác lập. Ảnh vệ tinh và số liệu của các mặt cắt ngang đo năm 2009 là những cứ liệu cho việc phân tích.