411873



ABSTRACTS VIEWS

14803



VIEWS & DOWNLOAD
 GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân
Qualification: Phó Giáo sư, Tiến sĩ
Fields/Area of Specialization: Khoa học Kỹ thuật; Giáo dục và Đào tạo
NGUYỄN NGỌC TRÂN, sinh ngày 06.01.1940, sang Pháp du học năm 1959, tốt nghiệp Tiến sĩ Nhà nước Khoa học tại Đại học Sorbonne, là Nghiên cứu viên tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS), Giáo sư Đại học Poitiers trước khi về Việt Nam năm 1976. Khi còn ở Pháp, ông đã cùng cộng đồng tham gia tích cực phong trào Việt kiều yêu nước, là Tổng thư ký của Hội Liên hiệp Trí thức Việt Nam tại Pháp, và Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp. Từ khi về nước, ông giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, là Phó Chủ nhiệm Khoa, Phó Hiệu trưởng trường, được phong Giáo sư năm 1980. Sau đó, ông đã đảm nhiệm các chức vụ Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Trưởng ban Việt kiều trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài (1992-1996), Phó chủ tịch Ủy ban quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội (1996-1997). Ông là đồng Chủ tịch trong các phiên họp của Ủy ban hỗn hợp liên chính phủ Việt Nam – Pháp về hợp tác văn hóa, khoa học và kỹ thuật, từ 1982 đến 1992 và đã ký kết bốn dự án quan trọng: thành lập Trung tâm Dịch vụ Phân tích và Thực nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hợp tác giữa INP Grenoble với ba trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, thành lập Trung tâm đào tạo Pháp – Việt về Quản lý (Centre de Formation franco-vietnamienne de Gestion, CFVG), và Chương trình đào tạo bác sĩ nội trú (FFI, Faisant Fonction d’Interne). Trong thời gian là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước ông đã được Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp cử làm Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp Nhà nước "Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long" (1983-1990). Trong thời gian ông đảm nhiệm công tác Trưởng Ban Việt kiều Trung ương (VKTW) thuộc Chính phủ, Ban VKTW đã tổ chức lần đầu tiên Hội nghị Việt Kiều Xuân Quý Dậu 1993, đã cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị chuyên đề Giáo dục đại học Việt Nam trước thách thức của thế kỹ XXI với sự tham gia của hơn một trăm giáo sư, chuyên gia trong và ngoài nước, Xuân Giáp Tuất 1994. Ban VKTW đã soạn thảo và trình Dự thảo NQ 08-TW về chính sách và công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, ban hành năm 1994. Ban VKTW được tổ chức lại thành Ủy Ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Chính phủ. Năm 1996, ông được chuyển sang công tác Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy Ban Quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 tổ chức tại Hà Nội tháng 11.1997. Ông là đại biểu Quốc hội (1992-2007), Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (1997-2007), Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Liên minh Nghị viện Pháp ngữ, và được bầu là Phó chủ tịch của Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (1997-2007). Ông là ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (1977-1994), là ủy viên rồi chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (1992 -2017). Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chông Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao Động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, và Kỷ niệm chương của Bộ Ngoại giao về những đóng góp với hai đoàn đàm phán trong thời gian Hội nghị Paris về Việt Nam. Ông đã nhận được những tặng thưởng nước ngoài: Officier de la Légion d’Honneur của Cộng hòa Pháp, Huân chương Lao động hạng Nhất của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Commandeur rồi Grand Officier de la Pléiade, Ordre de la Francophonie. Ông là chủ biên sách Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển, Báo cáo tổng hợp của Chương trình Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước, Hà Nội tháng 3.1991, là tác giả các sách Contribution à la Francophonie à l’heure de la mondialisation, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 200; Một số vấn đề kinh tế toàn cầu hiện nay, Nhà xuất bản Thế giới, 2002, tái bản lần thứ nhất có bổ sung 2003, Hà Nội; Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, Nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8.2011, tái bản trên http://www.sachbaovn.vn; Về kỹ năng của người đại biểu dân cử, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, tháng 1.2016. Từ khi nghỉ hưu theo chế độ năm 2008, ông trở về với hoạt động khoa học, với tâm thế của một người đã từng là đại biểu Quốc hội. Các lĩnh vực ông quan tâm là Giáo dục và Đào tạo, các thách thức mà đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối diện, các chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư công và cần cho phát triển bền vững, và hoạt động của Quốc hội. Một số bài viết gần đây của ông: Mekong là một con sông quốc tế và không chia cắt; Việt nam phải là một quốc gia mạnh về biển và từ biển; Phát triển kinh tế vùng, một nội hàm của tái cơ cấu kinh tế, một nội dung của đổi mới thể chế; Đồng bằng sông Cửu Long, 44 năm chuyển đối kinh tế, xã hội và môi trường; Quan điểm về Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long; Việt Nam, Những nhân tố hạn chế sự tăng trưởng của chỉ số cạnh tranh toàn cầu; Nguồn nhân lực, hợp phần của cạnh tranh và sáng tạo, đối tượng cạnh tranh toàn cầu; Một số nhận xét về việc huy động và sử dụng ODA trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Giai đoạn (2004 – 2014); Đối ngoại nghị viện, Hồi ức và nhìn về tương lai

Search Results

  • EB_KHXH_NGUYENNGOCTRAN.pdf.jpg
  • Sách (eBooks)


  • Authors: Nhiều tác giả (1990)

  • Quyển sách “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển” là bản Báo cáo tổng hợp của Chương trình Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long đã được nghiệm thu. Báo cáo tổng hợp đã được in và gửi về Ủy ban Khoa học Nhà nước vào tháng 3 năm 1991. Bản báo cáo được xây dựng trên kết quả điều tra, nghiên cứu của chương trình 60-B và 60-02, kế thừa các kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới về Đồng bằng sông Cửu Long, cũng như về phương pháp luận điều tra cơ bản tổng hợp một vùng lãnh thổ.

 GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân
author picture
Qualification: Phó Giáo sư, Tiến sĩ
Fields/Area of Specialization: Khoa học Kỹ thuật; Giáo dục và Đào tạo
NGUYỄN NGỌC TRÂN, sinh ngày 06.01.1940, sang Pháp du học năm 1959, tốt nghiệp Tiến sĩ Nhà nước Khoa học tại Đại học Sorbonne, là Nghiên cứu viên tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS), Giáo sư Đại học Poitiers trước khi về Việt Nam năm 1976. Khi còn ở Pháp, ông đã cùng cộng đồng tham gia tích cực phong trào Việt kiều yêu nước, là Tổng thư ký của Hội Liên hiệp Trí thức Việt Nam tại Pháp, và Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp. Từ khi về nước, ông giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, là Phó Chủ nhiệm Khoa, Phó Hiệu trưởng trường, được phong Giáo sư năm 1980. Sau đó, ông đã đảm nhiệm các chức vụ Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Trưởng ban Việt kiều trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài (1992-1996), Phó chủ tịch Ủy ban quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội (1996-1997). Ông là đồng Chủ tịch trong các phiên họp của Ủy ban hỗn hợp liên chính phủ Việt Nam – Pháp về hợp tác văn hóa, khoa học và kỹ thuật, từ 1982 đến 1992 và đã ký kết bốn dự án quan trọng: thành lập Trung tâm Dịch vụ Phân tích và Thực nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hợp tác giữa INP Grenoble với ba trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, thành lập Trung tâm đào tạo Pháp – Việt về Quản lý (Centre de Formation franco-vietnamienne de Gestion, CFVG), và Chương trình đào tạo bác sĩ nội trú (FFI, Faisant Fonction d’Interne). Trong thời gian là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước ông đã được Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp cử làm Chủ nhiệm Chương trình khoa học cấp Nhà nước "Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long" (1983-1990). Trong thời gian ông đảm nhiệm công tác Trưởng Ban Việt kiều Trung ương (VKTW) thuộc Chính phủ, Ban VKTW đã tổ chức lần đầu tiên Hội nghị Việt Kiều Xuân Quý Dậu 1993, đã cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị chuyên đề Giáo dục đại học Việt Nam trước thách thức của thế kỹ XXI với sự tham gia của hơn một trăm giáo sư, chuyên gia trong và ngoài nước, Xuân Giáp Tuất 1994. Ban VKTW đã soạn thảo và trình Dự thảo NQ 08-TW về chính sách và công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, ban hành năm 1994. Ban VKTW được tổ chức lại thành Ủy Ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Chính phủ. Năm 1996, ông được chuyển sang công tác Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy Ban Quốc gia tổ chức Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 tổ chức tại Hà Nội tháng 11.1997. Ông là đại biểu Quốc hội (1992-2007), Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (1997-2007), Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Liên minh Nghị viện Pháp ngữ, và được bầu là Phó chủ tịch của Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (1997-2007). Ông là ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (1977-1994), là ủy viên rồi chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia (1992 -2017). Ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chông Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao Động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, và Kỷ niệm chương của Bộ Ngoại giao về những đóng góp với hai đoàn đàm phán trong thời gian Hội nghị Paris về Việt Nam. Ông đã nhận được những tặng thưởng nước ngoài: Officier de la Légion d’Honneur của Cộng hòa Pháp, Huân chương Lao động hạng Nhất của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Commandeur rồi Grand Officier de la Pléiade, Ordre de la Francophonie. Ông là chủ biên sách Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển, Báo cáo tổng hợp của Chương trình Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước, Hà Nội tháng 3.1991, là tác giả các sách Contribution à la Francophonie à l’heure de la mondialisation, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 200; Một số vấn đề kinh tế toàn cầu hiện nay, Nhà xuất bản Thế giới, 2002, tái bản lần thứ nhất có bổ sung 2003, Hà Nội; Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, Nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8.2011, tái bản trên http://www.sachbaovn.vn; Về kỹ năng của người đại biểu dân cử, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, tháng 1.2016. Từ khi nghỉ hưu theo chế độ năm 2008, ông trở về với hoạt động khoa học, với tâm thế của một người đã từng là đại biểu Quốc hội. Các lĩnh vực ông quan tâm là Giáo dục và Đào tạo, các thách thức mà đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối diện, các chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư công và cần cho phát triển bền vững, và hoạt động của Quốc hội. Một số bài viết gần đây của ông: Mekong là một con sông quốc tế và không chia cắt; Việt nam phải là một quốc gia mạnh về biển và từ biển; Phát triển kinh tế vùng, một nội hàm của tái cơ cấu kinh tế, một nội dung của đổi mới thể chế; Đồng bằng sông Cửu Long, 44 năm chuyển đối kinh tế, xã hội và môi trường; Quan điểm về Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long; Việt Nam, Những nhân tố hạn chế sự tăng trưởng của chỉ số cạnh tranh toàn cầu; Nguồn nhân lực, hợp phần của cạnh tranh và sáng tạo, đối tượng cạnh tranh toàn cầu; Một số nhận xét về việc huy động và sử dụng ODA trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Giai đoạn (2004 – 2014); Đối ngoại nghị viện, Hồi ức và nhìn về tương lai
Showing results [1 - 1] / 1
  • EB_KHXH_NGUYENNGOCTRAN.pdf.jpg
  • Sách (eBooks)


  • Authors: Nhiều tác giả (1990)

  • Quyển sách “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển” là bản Báo cáo tổng hợp của Chương trình Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long đã được nghiệm thu. Báo cáo tổng hợp đã được in và gửi về Ủy ban Khoa học Nhà nước vào tháng 3 năm 1991. Bản báo cáo được xây dựng trên kết quả điều tra, nghiên cứu của chương trình 60-B và 60-02, kế thừa các kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới về Đồng bằng sông Cửu Long, cũng như về phương pháp luận điều tra cơ bản tổng hợp một vùng lãnh thổ.