Search

Current filters:

Search Results

  • <<
  • 1
  • >>
Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Võ, Quế Sơn, TS.;  Co-Author: 2015 (Đồng thời với việc thay đổi cáp đồng thành cáp quang và triển khai các kỹ thuật điều chế / giải điều chế quang nâng cao, hệ thống mạng truy cập đang chuyển biến từ mạng fiber-to-the-X (FTTX) chủ động sang thụ động. Trong mạng quang truy cập thụ động, chi phí triển khai và vận hành giảm đi nhiều lần nhờ tiết kiệm sợi quang và các thiết bị chuyển đổi quang điện dọc theo tuyến truyền. Thế hệ tiếp theo của mạng quang thụ động đang được nghiên cứu và phát triển là mạng quang thụ động phân chia theo bước sóng. Trong hệ thống thế hệ tiếp theo này, khả năng truyền và nhận tín hiệu trong một dải tần rộng ở phía người dùng, hay còn gọi là khả năng hoạt động colorless, là cực kỳ quan trọng. Phương pháp phổ biến nhất hiện nay để thực hiện điều trên là tái điều chế tin hiệu hướng xuống với dữ liệu hướng lên. Khuyết điểm lớn nhất của cách làm này là xuất hiện nhiễu xuyên kênh do tái điều chế và nhiễu xuyên kênh do tán xạ ngược Rayleigh dọc theo sợi quang. Trong các bài báo khoa học gần đây, nhiễu xuyên kênh do tái điều chế được giảm bớt bằng cách khuếch đại bão hòa tín hiệu xuống. Việc này làm tỉ số công suất giữa hai mức tín hiệu (extinction ratio) giảm, dẫn đến giảm chất lượng đường truyền về mặt tỉ lệ lỗi bit và tích số tốc độ bit – chiều dài. Trong đề tài này, chúng tôi đề xuất một phương pháp triệt nhiễu xuyên kênh bằng cách sử dụng xử lý toàn quang ở phía người dùng. Sử dụng tính chất phi tuyến của bộ khuếch đại quang bán dẫn, tin hiệu đường xuống được xóa khỏi tín hiệu hướng lên. Nhờ vậy, tỉ lệ lỗi bit và tích số tốc độ bit – chiều dài đã được cải thiện. Hơn nữa, mã đường truyền và phương pháp điều chế tín hiệu điện ở hướng xuống và hướng lên không còn bị giới hạn. Đây là điểm mấu chốt để cải thiện thêm chất lượng đường truyền bằng cách kết hợp với các phương pháp triệt nhiễu xuyên kênh do tán xạ ngược Rayleigh hiện nay. Các phân tích thống kê bằng phương pháp phân tích factorial cũng cho thấy tương quan giữa tốc độ bit hai hướng đến tỉ lệ lỗi bit được giảm đi khi dùng phương pháp triệt nhiễu đề nghị trong đề tài. Cuối cùng, nhờ sử dụng xử lý toàn quang, hệ thống trong đề tài có được khả năng hoạt động colorless)

  • Nghiên cứu khoa học


  • Authors: Võ, Quế Sơn, TS.;  Co-Author: 2015 (Những năm gần đây, tình trạng quá tải bệnh nhân tại các bệnh viện hiên nay đã được cảnh báo ở mức cao. Theo thống kê thì tính đến ngày 31.12.2010 cả nước có 1.148 bệnh viện với 191.020 giường bệnh. Nhưng con số này còn rất nhỏ với số lượng bệnh nhân khám và điều trị ngoại trú hàng năm là hơn 120.000 lượt, điều trị nội trú là hơn 10 triệu lượt [3] [4]. Theo một báo cáo vệ hiện trạng quá tải ở Bệnh viện Chợ Rẫy [6] thì một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải ở các bệnh viện là do số lượng bệnh nhân nội trú rất lớn trong khi thực sự có thể cho các bệnh nhân này điều trị ngoại trú với sự giám sát chặt chẽ của đội ngũ bác sĩ. Bộ Y tế cũng đã đưa ra dự thảo đề án Giảm tải Bệnh viện giai đoạn 2012-2020 [5]. Đứng trước thực trạng đó, việc xây dựng một hệ thống giám sát các thông số về sức khỏe từ xa của bệnh nhân là thật sự cần thiết. Hệ thống này cung cấp các phương tiện đo đạc các dữ liệu sức khỏe từ bệnh nhân từ xa (có thể dùng cho cả bệnh nhân nội trú hoặc ngoại trú) sau đó gởi các dữ liệu này đến một hệ thống lưu trữ để đội ngũ y bác sĩ có thể xem xét và đánh giá sức khỏe hiện trạng của các bệnh nhân. Hệ thống cũng có khả năng cảnh báo khi các bệnh nhân bị đột quỵ, ngất xỉu trong tình trạng không có ai phát hiện để có thể xử lý kịp thời. Tại các bệnh viện ở Việt Nam, với số lượng lớn các bệnh nhân nội trú như hiện nay thì việc đo đạc các thông số sức khỏe nói trên cũng là một công việc mất nhiều thời gian của đội ngũ y bác sĩ. Các công nghệ giám sát bệnh nhân từ xa đã được nghiên cứu và triển khai ở nhiều nơi trên thế giới và đem lại hiệu quả khá cao, tiết kiệm chi phí, giảm tải cho các bệnh viện,… như các thiết bị đo các chỉ số sức khỏe của Phillip [1], hay các thiết bị của SunTech [2] có khả năng đo lường và truyền dữ liệu sức khỏe đo được trong khoảng cách ngắn. Hãng Texas Instruments cung cấp một số các thiết bị và giải pháp triển khai hệ thống giám sát bệnh nhân từ xa như [44], [45]. Ở Việt Nam, hiện nay chưa có giải pháp nào giải quyết bài toàn này một cách tổng thể. Do vậy, đề tài sẽ tạo tiền đề cho việc nghiên cứu xây dựng một dự án hoàn chỉnh về giám sát bệnh nhân từ xa để giải quyết các bài toán về quá tải bệnh nhân như đã nêu. Với những lý do đã đề cập, mục tiêu của đề tài là thiết kế một hệ thống thu thập các dữ liệu y tế của bệnh nhân và truyền dữ liệu này về trung tâm lưu trữ theo các hệ thống mạng cảm biến không dây (WSNs). Dữ liệu thu thập sẽ bao gồm các thông số về huyết áp, nhịp tim, nhiệt độ của bệnh nhân. Đề tài sẽ tạo cơ sở cho việc tích hợp dữ liệu này vào các hồ sơ bệnh án của các hệ thống quản lý bệnh nhân tại các bệnh viện hiện nay. Điều này sẽ tiết kiệm chi phí cho các bệnh nhân, giảm tải cho các y bác sĩ và tăng số lượng bệnh nhân có thể chẩn đoán. Hơn thế nữa giải pháp được sản xuất bởi chính Việt Nam không phụ thuộc vào sản phẩm và công nghệ của nước ngoài giúp giá thành của việc triển khai hệ thống giảm đi rất nhiều. Các công nghệ sử dụng để thu thập và truyền tải dữ liệu là những công nghệ mới hiện nay cho nên sự thành công của đề tài cũng sẽ phổ biến được các kỹ thuật tiên tiến tại Việt Nam.)