Search

Current filters:

Search Results

  • <<
  • 1
  • >>
Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Thị Minh Nguyệt, ThS.;  Co-Author: 2015 (Molybdenum disulfide (MoS2) là một loại vật liệu có cấu trúc lớp tương tự graphene, thuộc họ dichalcogenides kim loại chuyển tiếp MX2 (M = Mo, W ; X = S, Se, Te), có dung lượng lý thuyết tương đối cao (669 mAh/g) [1], có sự thay đổi thể tích rất nhỏ trong quá trình đan cài và giải phóng ion Li+. Cấu trúc lớp của MoS2 giúp các ion Li+ đan xen dễ dàng hơn vì chúng có diện tích bề mặt lớn. Hơn nữa, liên kết giữa các lớp MoS2 là liên kết Vander Waal yếu, giúp linh động trong việc thay đổi thể tích mà không gây phá hủy cấu trúc vật liệu điện cực. Ống nanocarbon (CNTs) là vật liệu có tính chất điện và cơ rất nổi trội, khi kết hợp với vật liệu nano MoS2, CNTs có khả năng làm tăng đáng kể độ dẫn điện và tốc độ di chuyển của Li+ do CNTs có điện trở suất nhỏ và mạng lưới dẫn electron hiệu quả. Có nhiều phương pháp tổng hợp vật liệu tổ hợp MoS2/CNTs [2-4] , tuy nhiên hầu hết các phương pháp tổng hợp vật liệu này đều dựa trên phản ứng thủy nhiệt ở điều kiện nhiệt độ cao, áp suất cao, thời gian dài. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi đưa ra một quy trình đơn giản hơn với các điều kiện “mềm” hơn nhằm tổng hợp vật liệu nano MoS2/CNTs hướng tới ứng dụng làm vật liệu điện cực trong pin Lithium. Kết quả thu được cho thấy vật liệu nano MoS2 cấu trúc lớp với khoảng cách giữa các lớp xấp xỉ 0.62 nm đã được tổng hợp thành công và phân bố trên bề mặt ống nanocacbon.)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Thị Phương Phong, |cPGS.TS.;  Co-Author: 2016 (Vật liệu nano vàng kích thước nano (AuNPs) với các kích cỡ và hình dạng khác nhau (hình cầu, hình ngôi sao đa nhánh và hình que) đã được tổng hợp bằng hai phương pháp khử hóa học 1 giai đoạn và khử qua 2 giai đoạn (phương pháp tạo mầm trung gian. Với nano vàng dạnh hình cầu, phương pháp tạo mầm trung gian được sử dụng với mầm vàng đã được tổng hợp theo phương pháp Turkevich (17 nm) và sử dụng các chất khử khác nhau như hydroquinone (HQ), acid citric (CA), trisodium citrate (TSC) trong các dung dịch phát triển. Kết quả nhận được cho thấy có khả năng kiểm soát kích thước hạt nano từ 30 đến 100). Các hạt nano vàng dạng hình cầu (kích thước từ 4 đến 35) cũng được tổng hợp với chất khử Acid Ascorbic (AA) và được làm bền bằng các polymer thiên nhiên như collagen và gelatin. Cũng đã được tổng hợp bằng cách ổn định của collagen và gelatin. Các hạt nano dạng sao đa nhánh cũng đã được tổng hợp trong collagen và gelatin cũng bằng hai phương pháp: khử trực tiếp hoặc khử qua mầm trung gian. Chiều dài trung bình của các nhánh thay đổi từ 30-50 nm tùy theo pH của dung dịch và thành phần của tác chất. Nồng độ của Collagen và Gelatin đóng một vai trò quan trọng trong sự ổn định của các hạt nano vàng hình ngôi sao đa nhánh. Việc tổng hợp của dung dịch keo nano vàng dạng thanh (AuNRs) bằng phương pháp tạo mầm trung gian đã được thực hiện với việc sử dụng cetyltrimethylammonium bromide (CTAB) như là một khuôn mềm có sự hỗ trợ của chất phụ gia acid salicylic (SA). Sự kết hợp của CTAB-SA làm cho khuôn bền vững hơn và có thể kiểm soát được chiều dài của các thanh. Các đỉnh Plasmon (LSPR) theo chiều ngang là 542 nm và theo chiều dọc LSPR thay đổi từ 608 đến 1270 nm. Trong điều kiện thích hợp, thanh nano vàng nhận được có tính đồng nhất và có hiệu suất cao, tỉ lệ D:R lớn hơn 10. Đề tài cũng đề cập đến việc tổng hợp của các thanh nano vàng (AuNRs) trong khuôn cứng AAO theo phương pháp nhiệt dung môi. Khuôn AAO được ngâm trong dung dịch hỗn hợp HAuCl4, TSC, NaBH4 và được đặt trong Autoclave ở 1200C. Các AuNRs có hình dạng đồng nhất tương ứng với các kích thước lỗ của khuôn mẫu AAO. Các phương pháp phân tích hóa lý như UV-Vis, TEM, SEM, XRD, FT-IR được sử dụng trong toàn bộ đề tài)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Ánh Mai, TS.;  Co-Author: 2015 (Đ tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia “Tổng hợp vật liệu pha đảo chưa nhóm octadecyl (C18) trên nền silica và vật liệu trao đổi cation mạnh chưa nhóm sulfonate trên nền polymer dùng làm pha tĩnh cho cột chiết pha rắn (SPE)” đã thu được kết quả rất khả quan so với dự kiến ban đầu cả về phương diện khoa học lẫn đào tạo. Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi đã thu được các quy trình tổng hợp 2 loại vật liệu này với mật độ ghép nhóm C18 và sulfonate cao tương đương hoặc hơn các sản phẩm thương mại hiện có trên thị trường và với giá thành cạnh tranh. Trong trường hợp của vật liệu trao đổi cation, chúng tôi còn có thể kiểm soát mật độ nhóm chức theo ý muốn để sử dụng cho các đối tượng phân tích cần lưu giữ bằng một hay nhiều loại cơ chế khác nhau. Bên cạnh đó một sản phẩm phụ của đề tài cũng được quan tâm nghiên cứu đó là miếng lót xốp dùng trong cột SPE. Miếng xốp này đạt yêu cầu về độ bền cơ lý cho ứng dụng SPE, giá thành thấp hơn thị trường gần 10 lần: tuy nhiên cần có nghiên cứu thêm để cải tiến năng suất lọc. Một phương pháp nghiên cứu mới sử dụng trong đề tài này khi tối ưu hóa một quy trình tổng hợp đó là phương pháp quy hoạch thực nghiệm.Theo phương pháp này với 1 số lượng thí nghiệm tối thiểu chúng ta có thể thấy được ảnh hưởng của từng yếu tố cũng như sự tương tác giữa các yếu tố đối với hiệu suất phản ứng mà phương pháp thay đổi từng yếu tố không làm được. Mô hình toán học xây dựng được cho phép tìm điều kiện để tổng hợp vật liệu với dung lượng theo ý muốn. Nghiên cứu này đã tạo điều kiện để đào tạo 1 thạc sĩ, 7 cử nhân và xuất bản 1 bài báo trên tạp chí chuyên ngành cũng như 9 báo cáo miệng và 1 báo cáo treo tại các hội nghị)

  • Working Paper


  • Authors: Võ, Văn Hoàng, GS.TS.;  Co-Author: 2016 (Nội dung báo cáo tổng hợp có 04 phần chính:  Chúng tôi khảo sát chuyển pha từ mô hình Si lỏng 2 chiều sang trạng thái silicene tinh thể với thế tương tác Stillinger-Weber. Mô hình chứa 10000 nguyên tử. Chi tiết về quá trình thay đổi của cấu trúc khi làm lạnh từ 3500 K xuống 300 K được khảo sát thông qua hàm phân bố xuyên tâm, phân bố số phối vị, phân bố góc liên kết, phân bố vòng cấu trúc, phân bố khoảng cách giữa các nguyên tử, thể hiện trực quan các dạng khuyết tật cơ bản trong mô hình silicene nhận được ở 300 K. Kết quả mô phỏng cho thấy silicene nhận được bằng phương pháp làm lạnh ‘tự nhiên’ từ trạng thái lỏng thể hiện những đặc trưng cấu trúc chưa được công bố từ trước tới nay: (i) Chúng tôi tạo được mô hình silicene đa tinh thể gồm nhiều vùng có định hướng nguyên tử khác nhau, (ii) Biên vùng của silicene đa tinh thể chứa rất nhiều loại khuyết tật cấu trúc khác nhau (các loại vacancy, các loại vòng cấu trúc, khuyết tật 5-7 dạng StoneWales …) chứ không đơn thuần là chỉ có khuyết tật 5-7 như hiểu biết từ trước tới nay. Mô hình silicene nhận được ở 300K có cấu trúc dạng tổ ong như thực nghiệm tìm thấy: phần lớn các nguyên tử Si tham gia vòng 6 chứng tỏ độ tin cậy cao của mô phỏng. Điểm mới: buckling (độ lệch của nguyên tử Si ra khỏi mặt phẳng) là không đồng nhất cho toàn bộ các nguyên tử trong mô hình. Chúng tôi tìm thấy sự phân bố buckling khá rộng. Trong khi từ trước đến nay chúng ta hiểu buckling của silicene là 0.44 Å thì kết quả của chúng tôi cung cấp một thông tin hoàn toàn mới và logic.  Sự phụ thuộc của cấu trúc graphene nhận được bằng cách làm lạnh từ trạng thái lỏng với 05 tốc độ làm lạnh khác nhau được khảo sát chi tiết. Tùy thuộc vào tốc độ làm lạnh, graphene tinh thể hay graphene vô định hình (VĐH) có thể hình thành. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc của cấu trúc graphene VĐH vào tốc độ làm lạnh được khảo sát chi tiết: khi tốc độ làm lạnh càng cao thì tỷ lệ các nguyên tử tham gia vòng 6 càng giảm. Với graphene (tinh thể hay VĐH), tỷ lệ các nguyên tử tham gia vòng 6 phải chiếm ưu thế. Vì vậy, dựa trên kết quả mô phỏng ta thấy để nhận được graphene VĐH có chất lượng tốt bằng phương pháp làm lạnh từ trạng thái lỏng thì tốc độ làm lạnh chỉ nên dùng ở mức không quá cao.  Hiện tượng nóng chảy của graphene tinh thể được khảo sát chi tiết bằng phương pháp Động lực học phân tử. Mô hình được nung từ nhiệt độ 50 K lên 8500 K. Kết quả cho thấy có 02 chuyển pha diễn ra liên quan đến hiện tượng nóng chảy graphene. Chuyển pha từ màng graphene sang hệ carbon lỏng 2 chiều với cấu trúc dạng vòng nhiều kích thước khác nhau (ringlike liquid), ở nhiệt độ cao hơn là chuyển pha từ carbon lỏng dạng vòng cấu trúc sang carbon lỏng có cấu trúc dạng chuỗi (stringlike liquid). Graphene nóng chảy theo cơ 2 chế mới, cơ chế xé toạc màng carbon thaty vì cơ chế đồng nhất của hệ 2 chiều thường gặp trước đây.  Quá trình tạo thành silicene vô định hình (VĐH) từ trạng thái lỏng được khảo sát chi tiết. Mặc dù silicene VĐH cũng có cấu trúc dạng tổ ong như silicene tinh thể, mẫu silicene VĐH chứa nhiều khuyết tật hơn – kể cả những khuyết tật không có trong trạng thái tinh thể. Sự khác biệt nhiều về cấu trúc có thể dẫn tới sự khác biệt về tính chất vật lý và hóa học)

  • Working Paper


  • Authors: Trần, Quang Trung, PGS.TS.;  Co-Author: 2015 (Graphene chế tạo bằng phương pháp Hummer biến tính thông qua cac kỹ thuật tách lớp graphite, oxy hóa và hoàn nguyên đã được nghiên cứu chi tiết và đưa ra được quy trình chế tạo nhanh, rẽ tiền và vẫn đảm bảo các tính chất cơ bản và quan trọng của chúng. Trên cơ sở graphene chế tạo được, các định hướng nghiên cứu ứng dụng bước đầu đã được triển khai như màng dẫn điện trong suôt nhằm mục đích thay thế các TCO truyền thống hoặc các sensor khí có độ nhạy cao với một số khí độc ... khi kết hợp graphene với các vật liệu câu trúc nano như hạt, dây nano Au, Ag ... Để triển khai được bước nghiên cứu này, các nghiên cứu phụ trợ như chế tạo hạt và dây nano Au, Ag đã được thực hiện, phương pháp xác định số lớp của màng graphene bằng ảnh hiển vi quang học khi chuyển qua không gian màu CIE đã đóng góp đáng kể trong việc tiết giãm chi phí đo đạt bề dày màng (thường được thực hiện bằng các phép đo phổ biến đắt tiền như SEM, AFM) trong các nghiên cứu định hướng ứng dụng graphene làm điện cực trong suốt trên đế dẽo. Kết quả thú vị đạt được khi kết hợp hạt nano Au với graphene sẽ tạo nên một tổ hợp có hạt tải đa số là electron hay lỗ trống phụ thuộc vào phương pháp chế tạo và cách thưc kết hợp của hạt nano Au với graphene. Nếu Au điền khuyêt các vị trí trống trong mảng graphene sẽ tạo ra các hạt tải đa số là electron, còn trong trường hợp hạt nano Au đóng vai trò túi chứa điện tử khi tiêp xúc vơi mảng graphene sẽ tạo cho tổ hợp co nồng độ hạt tải đa số là lổ trống Tổ hợp hybrid giữa AgNWs/graphene trên đế thủy tinh hay PET với dây nano Ag đóng vai trò cầu nối giữa cac mảng graphene hứa hẹn thay thê được TCO khi tỉ sô tối ưu (độ dẫn điện / độ dẫn quang) đạt được là 130 tương đương vơi vật liệu AZO và bằng 60% so với ITO. Đặc biệt khi tổ hợp hybrid này được phủ trên đế dẽo thì khả năng chịu biên dạng của chúng cao hơn nhiều so vơi ITO Khi ứng dụng graphene làm chất phụ trợ cho các polymer dẫn đã bước đầu gặt hái thành công khi các mảng graphene (hay r-GO) kết hợp làm khung sườn cho các polymer đã làm giãm hệ sô giãn nở nhiệt của chúng. Kêt quả này rất ý nghĩa cho việc xác định tinh chất nhiệt của cac composit mới chế tạo từ các đơn polymer. Để thực hiện được nghiên cứu này, hệ thống đo giãn nở nhiệt bằng phương pháp nhiễu xạ chùm laser đã được xây dựng. Phương pháp đo quang không tiếp xúc này tránh cho màng mỏng composit tiếp xúc với đầu dò, giãm thiểu đáng kể sai số hệ thống trong quá trình đo. Ứng dụng graphene và tổ hợp lai của chúng với nano kim loại vào làm sensor khí NH3 đã gặt hái được nhiều kết quả hữu ích. Sensor có tính lọc lựa, độ lặp lại cao, giới hạn phát hiện thấp và mức độ giải hấp gần như hoàn toàn (trên 90%) ở nhiệt độ phòng. Hệ đo nhạy khí được xây dựng hoạt động hiệu quả phục vụ đắc lực trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài Các kết quả đo đạt và xác định các tính chất quan trọng của graphene và graphene pha tạp và sensor nhạy khí NH3 hoạt động ở nhiệt độ phòng như đã trình bày ở trên đều được so sánh với cac kết quả của các tác giả khác trên thê giới và được trình bày trong báo cáo tóm tắt và đăng tải trên 10 bài báo đăng trên các tạp chí trong nước (có phản biện), 02 bài báo quốc tế và 01 bài báo quốc tế đang được phản biện sau khi sửa chửa (revise submit) và hơn 04 bài báo cáo Khoa học ở các Hội nghị chuyên ngành trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, đề tài cũng gop phần giúp cho nhóm nghiên cứu hướng dẫn thành công 01 luận án tiến sĩ, 07 luận văn Thạc sĩ, hơn 10 khóa luận cử nhân và 02 nghiên cứu sinh đang thực hiện luận án theo định hướng nghiên cứu này.)

  • Working Paper


  • Authors: Hà, Thúc Chí Nhân, TS.;  Co-Author: 2016 (Ngày này các nhà khoa học đã và đang tìm ra rất nhiều loại vật liệu mới để đáp ứng cho nhu cầu phát triển ngày càng cao của con người. Trong đó vật liệu graphen và những ứng dụng của nó đang được rất quan tâm nghiên cứu trên rất nhiều lĩnh vực từ phổ thông cho tới nhưng lĩnh vực kĩ thuật cao như hàng không hay vũ trụ… Các đơn lớp graphene có bề dầy chỉ vài nanomet nhưng có độ bền nhiệt, độ dẫn diện cao và diện tích bề mặt lớn thì đây là một trong những loại vật liệu lý tưởng để chế tạo các loại nanocomposit trên nền một số loại polymer không phân cực. Bằng con đường tổng hợp trong pha lỏng, từ nguồn nguyên liệu graphit trải qua quá trình tách bóc và xử lý nhiệt với monoglycerid và sau cùng là khử bằng NaBH4, đề tài này chúng tôi đã tổng hợp thành công vật liệu graphen với độ tách bóc cao(từ 2-4 lớp), độ nhiệt cao (hơn 800oC), độ dẫn điện tốt (khoảng 41 S/cm) và có độ khuyết tật bề mặt thấp (Tỉ lệ ID/IG trong phổ raman khoảng 0,72 ) bằng các tác nhân rẻ tiền và thân thiện với môi trường. Graphen tạo thành tiếp tục được đưa vào gia cường cho nhựa nền polystyrene một loại polymer khá thông dụng, nhờ đó sản phẩm nanocomposit tạo thành có những tính chất được cải thiện đáng kể so với polymer nền lúc đầu về độ bền nhiệt, độ dẫn điện, độ cứng và độ giảm chấn của vật liệu.)