Search

Current filters:

Search Results

  • <<
  • 1
  • >>
Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Lê, Thị Bạch Linh, ThS.;  Co-Author: 2014 (Giá trị của một loại đất nông nghiệp cụ thể có thể được đo lường bằng tổng giá trị DVHST. Cách tính này khá toàn diện vì nó đo lường được tất cả các giá trị/lợi ích mà con người đang sử dụng trực tiếp, sử dụng gián tiếp và kể cả các giá trị chưa sử dụng (giá trị tiềm năng) của một loại đất cụ thể. Đề tài “Định giá giá trị sinh thái đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh Bình Phước” được thực hiện theo hướng tiếp cận như trên. Các kết quả đạt được của đề tài bao gồm: Tổng hợp tất cả dữ liệu thu thập được để phân tích bức tranh hiện trạng các HST nông nghiệp của tỉnh Bình Phước, xây dựng nên bản đồ HSTKV cho tỉnh, từ đó lựa chọn được 02 HST tiêu biểu cho nông nghiệp tỉnh Bình Phước là HST cao su và HST điều. Đề xuất quy trình định giá theo hướng tiếp cận tổng giá trị DVHST và áp dụng định giá cho 02 HST đã lựa chọn. Kết quả định giá lần lượt như sau: HST cao su trung bình 128,14 triệu VNĐ/ha/năm, HST điều trung bình 81,86 triệu VNĐ/ha/năm. HST cao su có giá trị nhóm dịch vụ cung cấp cao hơn HST điều, ngược lại, HST điều có giá trị nhóm dịch vụ điều tiết cao hơn HST cao su. Từ kết quả định giá, kết hợp với diện tích các HST hiện trạng 2014 và phương án quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt năm 2013, tiến hành đề xuất các giải pháp bố trí chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp đến năm 2020 cho tỉnh theo 3 căn cứ: tổng giá trị DVHST (TES), giá trị nhóm dịch vụ cung cấp (ProES) và giá trị nhóm dịch vụ điều tiết (RegES). Kết quả: tổng diện tích bố trí HST cao su và điều giảm 201.868 ha so với năm 2014. Dựa vào tiêu chí TES (phương án phát triển bền vững), diện tích HST cao su đề xuất là 230.809,7 ha, chiếm 33,59% diện tích tự nhiên, giảm 37.273,2 ha so với năm 2014. HST điều đến năm 2020 là 79.846,4 ha, giảm 164.595,1 ha so với diện tích hiện trạng. Nếu bố trí dựa vào hiệu quả kinh tế (ProES) thì diện tích HST cao su tăng thêm 55.392 ha so với phương án bền vững. Nếu bố trí dựa vào hiệu quả môi trường (RegES thì HST điều tăng thêm được 45.453 ha so với phương án bền vững. Kết quả định giá và các đề xuất của đề tài sẽ là căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách lựa chọn phương án bố trí đất nông nghiệp bền vững cho địa phương. Mặt khác, đề tài đã có những công bố khoa học và đào tạo khả quan gồm: 2 bài báo trên tạp chí hội nghị khoa học trong nước, 1 tiến sỹ và 2 cử nhân đã bảo vệ đề án tốt nghiệp.)