Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Văn Đông, TS.;  Co-Author: 2016 (Hệ thống dựa trên thiết bị GC Agilent 5890 và đầu dò AFS PS Analytical có sẵn. Hai thiết bị này được ghép nối với nhau qua 1 giao diện tự thiết kế. Một số linh kiện trên GC và đầu dò AFS đã được thiết kế lại và hiệu chỉnh cho phù hợp với chức năng của hệ thống ghép nối. Các thông số vận hành của hệ thống như giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng, khoảng tuyến tính, độ ổn định đã được đánh giá. Trong quy trình phân tích methyl thủy ngân, dung dịch ly trích đã được cải tiến cho phù hợp với điều kiện mẫu thực tế của Việt Nam và đã được đánh giá khách quan bằng vật liệu chuẩn quốc tế có chứng nhận; các tác nhân tạo dẫn xuất như sodium tetraethylborate, ethyl magnesium chloride và butyl magnesium chloride cũng được nghiên cứu và đánh giá hiệu năng sử dụng. Phương pháp phân tích thủy ngân tổng số cũng được kiểm tra lại và cải tiến cho phù hợp với trang thiết bị và điều kiện hóa chất của phòng thí nghiệm. Phương pháp phân tích methyl thủy ngân và thủy ngân tổng số đã được áp dụng trên các mẫu bùn lắng kênh rạch Tp. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy hệ thiết bị phân tích có giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng cho các hợp chất dialkyl thủy ngân khác nhau lần lượt là 0.88 ÷ 1.1pg Hg và 1.8 ÷ 2.1 pg Hg. Khoảng tuyến tích là 0.5 - 18 pg Hg. Các giá trị này phù hợp với các hệ tương tự đã công bố. Dung dịch ly trích gồm HNO3/KCl/CuSO4 phù hợp tốt hơn dung dịch ly trích gồm H2SO4/KBr/CuSO4 đối với các nền mẫu chứa TOC và tổng sulfur nồng độ cao như vật liệu chuẩn có chứng nhận là bùn lắng ERM-CC580 và một số mẫu thực. Với phương pháp phân tích đã tối ưu, hiệu suất thu hồi đối với các mẫu bùn lắng là 85 ÷ 102% và kết quả phân tích MeHg trong vật liệu chuẩn (75 ± 4 ng/g) là 75.6 ± 2.8 ng/g , 75.13 ± 0.45 ng/g, và 75.10 ± 0.48 ng/g tương ứng với các tác nhân tạo dẫn xuất NaBEt4, BuMgCl và EtMgCl. Hàm lượng MeHg và Hg tổng số trong 50 mẫu bùn lắng kênh rạch Tp. Hồ Chí Minh tương ứng là 0.08 ÷ 2.87 ng/g và 14.7 ÷ 622 ng/g. Kết quả này cho thấy nguồn gây ô nhiễm Hg trong bùn lắng kênh rạch địa bàn Tp. Hồ Chí Minh chủ yếu là do các hoạt động nhân sinh và mức độ ô nhiễm thấp hơn các nước trong khu vực và trên thế giới. Tóm lại, hệ thống GC-AFS và quy trình phân tích có thể được triển khai và áp dụng hỗ trợ cho các nghiên cứu và phân tích methyl thủy ngân tại Việt Nam mà không phải gởi mẫu phân tích sang nước ngoài như trước đây)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Huy Du, ThS.;  Co-Author: 2015 (Phương pháp lắng đọng điện hóa có khả năng tạo ra các lớp nano vàng trên các bề mặt điện cực. Tùy theo điều kiện lắng đọng và bề mặt điện cực, lớp nano vàng tạo thành sẽ có tính chất khác nhau và phù hợp với những ứng dụng riêng. Đề tài đã lắng đọng được lớp nano vàng trên điện cực bạch kim, tạo thành điện cực nano-Au/Pt-RD có khả năng xúc tác cho quá trình khử Cr(VI). Khi cho 4-pyridineethanethiol (PET) kết hợp với lớp nano vàng trên điện cực bạch kim, điện cực PET/nanoAu/Pt-RD tạo thành có khả năng tích góp Cr(VI) từ mẫu phân tích. Nhờ đó, phương pháp vol-ampe hòa tan catốt có thể phát hiện Cr(VI) ở mức 1 ng.L−1. Đề tài đã lắng đọng thành công lớp nano vàng trên điện cực glassy carbon, tạo thành điện cực nano-Au/GC-RD có khả năng hỗ trợ cho quá trình tích góp và hòa tan của As(V) và Hg(II). Nhờ đó, phương pháp vol-ampe hòa tan anốt trên điện cực nanoAu/GC-RD có thể phát hiện As(V) ở mức 0.6 µg.L−1 và Hg(II) ở mức 0.2 µg.L−1. Mặt khác, lớp nano vàng trên điện cực glassy carbon có khả năng xúc tác cho quá trình oxy hóa các carbohydrate. Do đó, khi được lắng đọng trên bề mặt glassy carbon của tế bào dòng chảy điện hóa, tạo thành tế bào nano-Au/GC/ECC có khả năng phát hiện các carbohydrate được tách ra từ thiết bị HPLC. Tế bào nano-Au/GC/ECC có thể hoạt động ổn định hơn các thế bào điện hóa thương mại có dạng Au/ECC. Các kết quả đạt được của đề tài đã hỗ trợ hoàn thành các khóa luận tốt nghiệp cho 04 cử nhân hóa học. Đề tài đã đóng góp 1 báo cáo miệng và 1 báo cáo treo tường tại hội nghị khoa học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp. HCM. Mặt khác, đề tài đã công bố 1 bài báo quốc tế trên tạp chí American Journal of Analytical Chemistry (Am. J. Anal. Chem. 6 (2015) 457-467). 1 bài báo quốc tế khác của đề tài đang được đăng trong mục In Press trên tạp chí Analytical Chemistry Research (Elsevier-Science direct).)

  • Working Paper


  • Authors: Phạm, Trần Nguyên Nguyên.;  Co-Author: 2015 (Vật liệu khung hữu cơ hay COFs (Covalent Organic Frameworks) là nhóm các vật liệu tinh thể dạng khung với lỗ xốp lớn. Từ lâu, COFs đã nhận được sự quan tâm của các nhà hóa học nhờ vào những tính chất đặc biệt của nó như độ xốp lớn, bền nhiệt, nhẹ,...và khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực “nóng hổi“ của thế giới như lưu trữ hydrogen, methane và công nghệ bán dẫn. Trong khi nhiều nghiên cứu liên quan đến tính chất hấp phụ của loại vật liệu này đã được thực hiện thì nghiên cứu về tính chất dẫn điện tử của chúng vẫn còn rất ít và là một lĩnh vực còn mới mẻ đối với cả các nhà khoa học thực nghiệm lẫn các nhà lý thuyết. Hơn nữa, do không thể xác định được cấu trúc bằng các kĩ thuật nhiễu xạ tia X nên việc xây dựng mô hình của COFs là một kĩ thuật phân tích quan trọng trong nghiên cứu tổng hợp COFs. Có thể nói đây là một lĩnh vực màu mỡ dành cho các nhà hóa học tính toán. Trong đề tài này, sử dụng lý thuyết DFT chúng tôi tiến hành xây dựng và khảo sát một chuỗi các cấu trúc COF 2D và 3D nhằm tìm ra ảnh hưởng của linker lên cấu trúc vùng năng lượng của vật liệu.Kết quả cho thấy cấu trúc dự đoán trên lý thuyết rất phù hợp với những kết quả phân tích thực nghiệm. Sự mở rộng linker bằng cách tăng số lượng vòng benzene được chứng minh là một phương pháp hiệu quả trong việc thiết kế vật liệu bán dẫn tiềm năng. Một kết quả thú vị tìm được trong nghiên cứu này chính là sự thay thế các nguyên tử carbon trên linker bằng nitrogen có thể làm thay đổi bản chất dẫn của COFs từ bán dẫn sang kim loại, một hiện tượng hiếm thấy trong lĩnh vực vật liệu dẫn hữu cơ. Cuối cùng, những kết quả của đề tài góp phần cung cấp một nền tảng lý thuyết trong việc thiết kế và tổng hợp ra những vật liệu COFs mới ứng dụng cho công nghệ bán dẫn.)

  • Working Paper


  • Authors: Huỳnh, Kỳ Phương Hạ, PGS.TS.;  Co-Author: 2015 (Pin nhiên liệu oxid rắn đơn buồng phản ứng (SC-SOFC) có nhiều ưu điểm so với pin nhiên liệu oxid rắn truyền thống. Hơn nữa, SC-SOFC hoạt động ở nhiệt độ trung bình (~500  800oC) sẽ có chi phí nguyên vật liệu chế tạo thấp hơn so với loại hoạt động ở nhiệt đô cao. Do đó, việc tìm ra các vật liệu vừa thỏa mãn được điều kiện hoạt động trong hỗn hợp CH4+O2 và vừa có công suất cao khi hoạt động trong điều kiện nhiệt độ (~500  800oC luôn là đề tài được quan tâm nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, vật liệu LSCF6428 được điều chế bằng phương pháp solgel nhằm ứng dụng làm điện cực cathode cho pin nhiên liệu. Các yếu tố như nhiệt độ, thời gian nung, pH dung dịch ảnh hưởng đến cấu trúc của LSCF6428 được khảo sát. Ngoài ra, các phương pháp SEM, BET,TEC, xác định độ kết khối được áp dụng để xác định tính chất của sản phẩm. Trên cơ sở vật liệu LSCF6428 đã tổng hợp được ứng dụng làm điện cực cathode cho pin nhiên liệu. Tế bào nhiên liệu được chế tạo là NiO+GDC/LDM/GDC/cathode. Trong đó, anode là hỗn hợp có thành phần chính là NiO và GDC, màng dẫn là LDM, GDC là lớp phân cách ngăn phản ứng giữa LDM và cathode. Cathode trong pin được chế tạo từ LSCF6428 hoặc từ compositee bao gồm các thành phần LSCF6428 và GDC với các tỷ lệ khác nhau. Để kiểm tra sự tương thích về hệ sớ giãn nở nhiệt của LDM và cathode, Hệ số gỉan nở nhiệt của LDM và các loại cathode khác nhau cũng được kiểm tra. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy điều kiện thích hợp để độ chọn lọc CH4 cao là hỗn hợp khí phối trộn ở Rmix = 2. Việc phối trộn với GDC không làm ảnh hưởng đến tính chọn lọc của hỗn hợp vật liệu, nhưng lại làm giảm sự chênh lệch hệ số TEC của cathode với chất điện môi, tăng độ xốp, do đó, hỗn hợp cathode được lựa chọn là LSCF phối trộn với GDC theo tỷ lệ 7:3. Cuối cùng, công suất của các loại pin với các cathode khác nhau đã được đo đạc trong điều kiện đơn buồng, sử dụng hỗn hợp CH4+O2. Các pin nhiên liệu sử dụng các thành phần khác nhau làm cathode cũng được chế tạo như: GN46|LDM91|GDC10| LSCF, GN46|LDM91|GDC10| LSCF+GDC 5-5, GN46|LDM91|GDC10| LSCF+GDC 3-7. Pin GN46|LDM91|GDC10| LSCF+GDC 5-5 có công suất cực đại là 239 mW cm-2)