Search

Current filters:

Search Results

  • <<
  • 1
  • >>
Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Cung, Hoàng Phi Phượng, ThS.;  Co-Author: 2015 (Ớt là loài cây gia vị có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Đây là một loài cây hoa màu quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mexico, Thái Lan… Diện tích và năng suất trồng ớt trên thế giới tăng đều qua các năm. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, cây ớt đang ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong ngành trồng trọt, diện tích trồng ớt cũng tăng nhanh. Vì vậy, nhu cầu về hạt giống ớt chất lượng cao hiện nay là rất lớn. Ngày càng nhiều công ty giống tại Việt Nam quan tâm đầu tư sản xuất hạt giống F1 thương mại. Việc sản xuất hạt giống F1 ở quy mô lớn thường gặp nhiều khó khăn do sự tự thụ phấn của cây mẹ. Hiện tượng bất dục đực tế bào chất ở ớt chính là giải pháp hiệu quả nhất cho vấn đề trên. Nhờ vào việc tránh được hoàn toàn hiện tượng tự thụ phấn ở cây mẹ, cây ớt bất dục đực tế bào chất có thể giúp nâng cao đáng kể năng suất và chất lượng hạt giống, đồng thời giúp tiết kiệm chi phí nhân công. Chính vì lí do đó, việc chọn lọc, lai tạo các dòng ớt bất dục ngày càng được quan tâm. Việc tìm ra phương pháp xác định sớm và chính xác các dòng ớt bất dục sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ lai tạo các dòng bất dục đực phục vụ cho sản xuất hạt giống ớt thương mại. Trên cơ sở đó, đề tài đã tiến hành khảo sát khả năng ứng dụng các bộ mồi nhằm xác định sớm và chính xác các dòng quan trọng trong hiện tượng bất dục đực ở ớt bằng phương pháp PCR. Kết quả khảo sát cho thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa đột biến ở đầu 3’ gen coxII với tế bào chất bất dục ở cả ba dòng ớt được khảo sát (Chỉ Thiên, Sừng Vàng, Sừng Đỏ), đồng thời cũng khẳng định được vai trò của allele trội Rf trong sự phục hồi khả năng hữu thụ. Việc kết hợp các bộ mồi coxIISCAR hoặc coxTri-M1 với RfSCAR cho phép xác định chính xác dòng bất dục đực và dòng duy trì tính bất dục ở các giống ớt được khảo sát. Kết quả thu được cho thấy tính khả thi trong việc ứng dụng các bộ primer này nhằm tăng hiệu quả của quá trình chọn tạo các dòng quan trọng ở cây ớt tại Việt Nam.)

  • Working Paper


  • Authors: Lương, Bảo Uyên, TS.;  Co-Author: 2015 (Hợp chất ferulic acid được gắn lên chitosan dưới sự xúc tác của laccase từ nấm bào ngư Pleurotus sp. Phản ứng được thực hiện ở nhiệt độ phòng, dưới điều kiện lắc liên tục. Việc khảo sát các điều kiện thích hợp cho phản ứng gắn đã tạo được dẫn xuất chitosan (C-FA 6.0) với khả năng bắt gốc tự do DPPH đạt giá trị IC50 là 173.53 µg/ml và khả năng bắt gốc ABTS.+ đạt được IC50 là 471.36 µg/ml. So với chitosan, dẫn xuất chitosan (C-FA 6.0) thu được cho khả năng bắt gốc tự do DPPH cao gấp 31 lần và khả năng bắt gốc ABTS.+ cao gấp 7 lần. Dẫn xuất chitosan (C-FA 6.0) có màu vàng cam ổn định. Phân tích phổ nhận thấy có độ hấp thu cao trong vùng 240nm - 600nm so với nguyên liệu ban đầu (chitosan và ferulic acid) khi đo quang phổ UV/Vis, có sự hình thành mũi mới tại 1505 cm-1 khi đo quang phổ hồng ngoại và có sự xuất hiện 1 tín hiệu mới tại 6.32 ppm ứng với proton của nhóm phenyl. Dẫn xuất chitosan tổng hợp ở pH 4.5 (C-FA 4.5) có khả năng tạo màng bảo quản xoài. Trong các thử nghiệm bảo quản xoài, các lô đối chứng (không bọc màng hoặc bọc màng chitosan) hàm lượng đường tổng tăng nhanh từ ngày 0-ngày 3 (0.34% - 1.18%) sau đó giảm dần đến ngày 9 thì bị hư, trong khi đó lô xoài được bảo quản bằng màng dẫn xuất chitosan-FA có hàm lượng đường tổng tăng dần và đến ngày 9 vẫn chưa giảm. Ngoài ra khả năng bảo quản xoài của màng dẫn xuất còn được thể hiện qua mức giảm trong lượng và lượng vitamin C khá chậm so với lô đối chứng.)

  • Working Paper


  • Authors: Lê, Hồng Phú, TS.;  Co-Author: 2015 (Cây tiêu là cây ưu thế và mang lại giá trị xuất khẩu cao cho Việt Nam có chất lượng tốt với sản lượng hơn 1/3 trong tổng thể sản lượng tiêu trên thế giới (hơn 120.000 tấn). Trong đó tiêu sọ chiếm 20% và ngày càng được sử dụng nhiều hơn trên toàn thế giới. Công nghệ sản xuất tiêu sọ có thể bằng phương pháp hóa học và phương pháp sinh học, phương pháp sau được quan tâm nhiều hơn do sản phẩm an toàn và chất lượng cao. Phương pháp sinh học bao gồm sử dụng enzym và chế phẩm sinh học và cả phương pháp sản xuất truyền thống. Công nghệ sản xuất tiêu sọ bằng phương pháp lên men đang gặp phải một số vấn đề sau: (1) thời gian chế biến kéo dài, (2) màu sắc chưa đạt do bóc tách chưa hết, (3) suy giảm hương trong quá trình chế biến, (4) giảm chất trích hòa tan. Nếu dùng chế phẩm enzym ngoại nhập để rút ngắn thời gian lại gặp trở ngại khác là giá khá cao. Vì vậy chúng tôi đặt ra mục tiêu cụ thể là rút ngắn qui trình lên men, đạt màu sắc, đảm bảo hương thơm tự nhiên của tiêu, tăng chất trích hòa tan và giảm chi phí bằng việc ứng dụng chế phẩm VSV. Mục tiêu chung là nghiên cứu tạo ra các chế phẩm vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp pectinase và cellulase, tìm ra quy trình kỹ thuật lên men để nâng cao khả năng tách vỏ, trích ly chất hòa tan từ tiêu cũng như cải thiện tốt hương và vị nhằm nâng cao chất lượng tiêu. Nội dung đề tài đặt ra liên quan đến công nghệ vi sinh vật, công nghệ enzym và công nghệ lên men. Các phương pháp sử dụng là khá cơ bản như các phương pháp nuôi cấy vi sinh vật, phương pháp định hướng sản xuất cũng như xác định hoạt tính enzym pectinase và cellulase, phương pháp lên men. Kết quả đã nghiên cứu các điều kiện tối ưu để sản xuất 10 chế phẩm như thành phần hóa học môi trường, độ ẩm, thời gian để sinh tổng hợp pectinase, cellulase đối với các chủng nấm sợi. Đề tài cũng đã chọn được các chế phẩm có thể ứng dụng quy mô công nghiệp trong việc tách vỏ tiêu với lượng chế phẩm sử dụng từ 30 đến 35% và thời gian lên men tách vỏ là 60-72 giờ tùy từng loại chế phẩm. Ngoài ra, cũng đã tạo được các chế phẩm có thể ứng dụng quy mô công nghiệp trong việc làm tăng chất trích hòa tan và cảm quan tốt về hương và vị với các điều kiện lên men tiêu như độ ẩm tiêu, tỉ lệ chế phẩm đưa vào lên men, thời gian lên men (thành phần chất hòa tan). Tiêu lên men phải được ngâm trong nước 1,5 giờ để đạt độ ẩm 53-72%W, để ráo nước và tiến hành lên men với 5 chế phẩm (biopep-1, biopep-2, biopep-3, biopep-8, và biopep-10) đều lên men tiêu trong môi trường rắn ẩm. Tiêu lên men có tách vỏ hoàn toàn, màu trắng, có hương tự nhiên của tiêu, tăng chất hòa tan đến 30% và an toàn cho người sử dụng. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là có thể ứng dụng tại các công ty sản xuất tiêu, đặc biệt có thể ứng dụng ở quy mô công nghiệp.)

  • Working Paper


  • Authors: Huỳnh, Ngọc Oanh, TS.;  Co-Author: 2016 (Đề tài thực hiện khảo sát việc thu nhận các sản phẩm giàu đạm từ quá trình tự phân của trùn quế. Kết quả đạt được như sau: Hoạt tính tăng dần theo thời gian tự phân đến 10 ngày tuy nhiên hàm lượng protein cao chỉ ở ngày thứ nhất và có xu hướng giảm dần theo thời gian do sự phân giải sâu sắc tạo sản phẩm không mong muốn. Tối ưu hóa hiệu suất thu dung dịch giàu đạm amin của quá trình tự phân theo Design Expert đạt cao nhất ở điều kiện 55oC trong thời gian 24 giờ với độ pha loãng 13%. Dịch trùn sau tự phân bảo quản khi bổ sung kali sorbate 0,2% đạt hiệu quả tốt nhất. Dịch trùn sau tự phân có hàm lượng đạm amin (amino acid) tăng lên gấp đôi, có 17 loại amino acid chiếm 7,61% (w/w), đặc biệt glutamic acid chiếm cao nhất. Sản phẩm bột trùn quế từ dịch trùn tự phân sấy phun cho được chất lượng bột trùn đạt giá trị tốt nhất với hàm lượng đạm tổng 71.05 g/100g hàm lượng chất khô, hàm lượng đạm amin là 7.59 g/100g hàm lượng chất khô. Ngoài ra về mặt cảm quan thì bột có màu vàng, mùi thơm. Sản phẩm bột trùn phối trộn bằng cách lấy dịch trùn phối trộn với trứng, bột sữa, gluten. Tỉ lệ phối trộn dịch trùn: trứng: bột sữa: gluten là: 69:20:6:5. Hàm lượng đạm tổng, đạm amin của bột trùn phối trộn lần lượt là: 55.05 g/100g hàm lượng chất khô, 1.08g/100g hàm lượng chất khô. Ngoài ra việc sử dụng dịch trùn quế bón lá cây cải bẹ xanh sau 35 ngày thu hoạch ta thấy số lá trên một cây vào khoảng 8 lá/cây, chiều dài lá vào khoảng 14.067 cm và trọng lượng tươi là 21.74 g/cây kết quả tương đương với việc sử dụng các loại phân bón TKT và phân bón Acidifier. Việc ứng dụng dịch trùn quế làm môi trường nuôi cấy nuôi vi sinh vật đạt kết quả tốt: mật độ tế bào vào khoảng 1011- 1013 CFU/ml tốt hơn so với việc nuôi trên môi trường đạm pepton và cao nấm men. Với các kết quả trên cho thấy khả năng đa dạng hóa các sản phẩm từ dịch trùn quế là hết sức phong phú, từ đó sẽ góp phần nâng cao giá trị thương phẩm của trùn quế và góp phần vào việc ổn định đầu ra cho các hộ nông dân chăn nuôi trùn quế hiện nay)

  • Working Paper


  • Authors: Tô, Minh Quân, ThS.;  Co-Author: 2016 (Mạch máu khử tế bào có cấu trúc, thành phần tương tự như mạch máu tự nhiên. Tế bào tiền thân nội mô (EPC) là nguồn tế bào có thể được thu nhận từ máu tự thân và mang nhiều tính chất của tế bào nội mô: biểu hiện các marker đặc trưng của tế bào nội mô,khả năng chống đông máu. Sự kết hợp giá thể mạch máu khử tế bào và tế bào EPC có thể tạo ra mạch máu kỹ nghệ hướng tới thay thế hoàn toàn hoặc bắc cầu qua đoạn mạch tự nhiên.Trong đề tài này, tế bào EPC được thu nhận từ máu cuống rốn, giá thể động mạch được thu từ động mạch vành tim heo. Động mạch vành tim heo được khử tế bào bằng NaOH 0.5 M trong 6 giờ hoặc nước cất 24 giờ hoặc Triton X100 0,1% trong 24 giờ hoặc SDS 0,5% trong 24 giờ.Hiệu quả khử tế bào được đánh giá bằng phương pháp nhuộm HE, Trichrome, Verhoeff – Van Gieson.Giá thể mạch máu vô bào được khử trùng với cồn 70o trong 12 giờ/18 giờ/24 giờ hoặc với hỗn hợp kháng sinh/kháng nấm (penicillin, streptomycin, amphotericin B).Tiếp theo, độc tính giá thể vô bào được đánh giá theo tiêu chuẩn ISO 10993-5. Máu cuống rốn được ly tâm đẳng tỷ trọng với Histopaque để thu tế bào đơn nhân. Lớp tế bào đơn nhân được nuôi trong môi trường EGM-2 bổ sung 10% FBS, nuôi ở 37oC, 5% CO2. Tế bào thế hệ P3 được đánh giá marker CD14, CD45, CD105 bằng flow cytometry và KDR, Ve-cadherin, Thrombomodulin,vWF, CD146 bằng RT-PCR. Tế bào EPC được đưa lên lòng giá thể mạch máu vô bào bằng phương pháp tiêm trực tiếp và nuôi 11 ngày. Sự tăng trưởng được đánh giá bằng kính hiển vi điện tử quét, nhuộm HE và MTT. Kết quả cho thấy: phương pháp khử tế bào tốt là kết hợp SDS 0,5% trong 18 giờ và nước cất 24 giờ. Phương pháp khử trùng tốt nhất là sử dụng cồn 70o.Giá thể mạch máu không gây độc tế bào. Tế bào EPC được thu nhận thành công, biểu hiện các marker CD 105, KDR, Ve-cadherin, Thrombomodulin, vWF, CD146 và không biểu hiện CD14, CD45. Tế bào EPC bám dính và tăng sinh trên lòng mạch máu từ ngày 1 đến ngày 7.)

  • Working Paper


  • Authors: Trần, Thanh Hương, TS.;  Co-Author: 2015 (Các hệ thống tế bào sẵn sàng cho vi nhân giống và cô lập tế bào trần của một số giống chuối (Cau Mẵn, La Ba, Bom và Hột) được chuẩn bị, bao gồm: cây in vitrotừsự nuôi cấy mô phân sinh ngọn chồi, cụm chồi tăng sinh cao từ sự nuôi cấy các lớp mỏng tế bào được cắt ngang qua vùng mô phân sinh ngọn chồi,và dịch treo tế bàotừ mô sẹo hay cụm chồi tăng sinh cao.Kỹ thuật cô lập tế bào trần được thực hiện với các vật liệu lá non câyin vitro, cụm chồi tăng sinh cao và dịch treo tế bào.Ảnh hưởng của loại và trạng thái sinh lý của mô thực vật được sử dụng, loại và nồng độ enzyme cũng nhưthời gian xử lý trên hiệu suất thu nhận tế bào trần;thành phần môi trường nuôi cấy và loại tế bào nuôi trên sự phát triển của tế bào trần được khảo sát. Sau đó, tiến hành thử khả năng dung hợp của các tế bào trần nhờ PEG. Trong các vật liệu khảo sát, hiệu suất thu nhận tế bào trần cao nhất khi xử lý dịch treo tế bào với hỗn hợp enzyme cellulase 1,5%, pectolyase 0,15% và hemicellulase 0,2% liên tục trong 15 giờ. Bên cạnh đó, sự thu nhận tế bào trần cũng có thể được thực hiện bằng cách dùng lá non cây con in vitro hay cụm chồi tăng sinh cao (với các chồi có chiều cao 1-2mm). Sự cô lập tế bào trần từ cụm chồi tăng sinh cao cần16 giờ xử lý với hỗn hợp enzyme cellulase 4%, pectinase 2% và hemicellulase 1% trong khi sự thu nhận tế bào trần từ lá non cây in vitro cần 24 giờ xử lý với hỗn hợp enzymecellulase 6%, pectinase 3% và hemicellulase 1,5%. Mật độ tế bào trần ban đầu cao (5x106 tế bào/ml), nồng độ vitamin và acid amin cao trong môi trường N6PKM, sự phối hợp bổ sung các chất 2,4-D 0,2 mg/l, NAA 0,2 mg/l, zeatin 0,5 mg/l và các tế bào nuôi cà rốt cần thiết cho sự phát triển của hệ thống tế bào trần trong mục đích thu nhận các tế bào có khả năng phát sinh phôi. Quá trình phát triển của tế bào trần được ghi nhận đầu tiên bởi sự hình thành vách sau 5 ngày nuôi cấy, phân chia đầu tiên của tế bào sau 10 ngày và cụm tế bào có khả năng sinh phôi sau 4 tuần nuôi cấy và phôi thể hệ sau 8 tuần nuôi cấy.Các tế bào trần thu nhận được có khả năng dùng cho dung hợp tế bào trần (lai thể hệ). Đào tạo được 2 cử nhân Sinh học (đã bảo vệ năm 2013), 3 thạc sĩ Sinh lý thực vật (dự kiến bảo vệ vào tháng 9/2015). Công bố 7 bài báo: 1 bài báo đăng tạp chí trong nước, 3 bài tham gia hội nghị trong nước, 2 bài tham gia hội nghị quốc tế, 1 bài gửi đăng tạp chí quốc tế thuộc ISI.)

  • Nghiên cứu khoa học


  • Authors: Nguyễn, Thị Hồng Thương, TS.;  Co-Author: 2016 (Terpenoid là nhóm hợp chất thứ cấp đa dạng về cấu trúc, được hình thành từ những đơn vị 5 nguyên tử carbon là isopentenyl diphosphate (IPP) và dimethylallyl diphosphate (DMAPP). Sự kết hợp “đầu-đuôi” (head-to-tail) giữa IPP và DMAPP dưới sự xúc tác của các enzyme trans-prenyltransferase tạo ra các chất trung gian trans-prenyldiphosphate có số nguyên tử carbon lớn hơn như geranyl diphosphate (GPP, C10), farnesyl diphosphate (FPP, C15), geranylgeranyl diphosphate (GGPP, C20). Các trans-prenyldiphosphate trên được chuyển hóa thành monoterpene, sesquiterpene và diterpene tương ứng bởi các enzyme thuộc họ terpene synthase (TPS). Gần đây, các nhà khoa học nghiên cứu về con đường sinh tổng hợp terpene ở loài cà chua Solanum lycopersicum có bộ gene vừa được giải mã hoàn toàn đã công bố sự hiện diện của các gene TPS phân bố ở đầu NST 8 bao gồm TPS19, 20 và 21 mã hóa cho các TPS có trình tự protein rất tương tự nhau (hơn 95%) và đều là những terpene synthase sử dụng các cis-prenyldiphosphate thay vì trans-prenyldiphosphate làm cơ chất chính. Kề cận với ba gene TPS ở đầu NST 8 này còn có hai gene mã hóa enzyme thuộc họ cis-prenyltransferase (CPT) bao gồm CPT1 mã hóa enzyme neryl diphosphate synthase có khả năng xúc tác tổng hợp NPP (đồng phân cấu hình cis của GPP) và CPT2 mã hóa enzyme nerylneryl diphosphate synthase có khả năng xúc tác tổng hợp NNPP (đồng phân cấu hình cis của GGPP) từ DMAPP và IPP. Những nghiên cứu sơ bộ về hoạt tính enzyme in vitro của TPS19, TPS20 và TPS21 đã đề nghị rằng cả hai enzyme TPS19 và TPS20 đều sử dụng NPP thay vì GPP làm cơ chất chính để tổng hợp các monoterpene, còn TPS21 sử dụng NNPP thay vì GGPP làm cơ chất chính để tổng hợp diterpene. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát sự biểu hiện tái tổ hợp của các protein TPS19, TPS20 và TPS21 trong tế bào vi khuẩn E. coli BL21(DE3). Bởi vì các cơ chất cis-prenyldiphosphate mà những terpene synthase này sử dụng không sẵn có trong vi khuẩn E. coli, chúng tôi đã biểu hiện đồng thời trong E. coli BL21(DE3) mỗi TPS này cùng với một enzyme họ cis-prenyltransferase mà có khả năng tổng hợp cơ chất cis-prenyldiphosphate tương ứng cho enzyme TPS. Cụ thể, khi biểu hiện đồng thời cDNA mã hóa CPT1 và TPS19 hoặc CPT1 và TPS20 trong E. coli BL21(DE3), enzyme CPT1 đã tổng hợp NPP từ cơ chất nội sinh IPP và DMAPP có trong tế bào chủ, đồng thời enzyme TPS19 đã sử dụng NPP sinh ra làm cơ chất để tổng hợp β-ocimene trong khi TPS20 đã chuyển hóa NPP thành β-phellandrene. Khi biểu hiện đồng thời CPT2 và TPS21 trong E. coli BL21(DE3), chúng tôi ghi nhận có sự hiện diện của một diterpene, được dự đoán là lycosantalene dựa theo thông tin khối phổ của nó và hợp chất này không được phát hiện trong dịch tế bào vi khuẩn chỉ biểu hiện TPS21. Các kết quả của đề tài là tiền đề để tiếp tục nghiên cứu cải biến con đường sinh tổng hợp terpenoid ở vi sinh vật thông qua cơ chất mới cis-prenyldiphosphate. Những kết quả nghiên cứu của đề tài đã được nhóm nghiên cứu công bố trong hai bài báo được đăng trên Tạp chí Sinh học và Tạp chí Công nghệ sinh học. Ở khía cạnh đào tạo, các nội dung thuộc đề tài nghiên cứu đã được triển khai trong đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên Phạm Lê Hoàng Yến (tốt nghiệp Cử nhân Sinh học tháng 11/2015) và đề tài luận án Thạc sĩ Chuyên ngành CNSH của Học viên Cao học La Ngọc Thùy Vân (K24).)