Search

Current filters:

Search Results

  • <<
  • 1
  • >>
Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Đào, Thanh Sơn, TS.;  Co-Author: 2017 (Đề tài nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu chính (1) đánh giá hiện diện của kim loại nặng trong môi trường, trong nhuyễn thể có nguồn gốc tự nhiên và tích tụ kim loại trong nhuyễn thể từ sông Mekong và (2) đánh giá độc tính của kim loại hòa tan trong môi trường tự nhiên lên vi giáp xác. Nghiên cứu được triển khai bao gồm việc khảo sát thu mẫu hiện trường và phân tích hóa học trong phòng thí nghiệm nhằm quan trắc hàm lượng 8 kim loại nặng (As, Cd, Cr, Cu, Fe, Ni, Pb và Zn) trong môi trường và trong nhiều loài sinh vật khác nhau của hai nhóm nhuyễn thể cơ bản: dạng ốc và dạng hai mảnh vỏ. Về đánh giá độc tính của kim loại lên vi giáp xác, các thí nghiệm cấp tính của ba kim loại (Cu, Ni, Zn) lên loài vi giáp xác vùng nhiệt đới là Daphnia lumholtzi đã được tiến hành. Đồng thời nhiều thí nghiệm để đánh giá ảnh hưởng mãn tính của kim loại lên vi giáp xác (Daphnia lumholtzi, Daphnia magna) đã được thực hiện trên nền môi trường nhân tạo và môi trường nước sông. Bên cạnh đó, để xác định khả năng ảnh hưởng phụ của các chất ô nhiễm khác (ngoài kim loại) trong môi trường nước sông, nghiên cứu ảnh hưởng mãn tính của một số hợp chất tổng hợp (pesticides, EDCs) cũng được thực hiện trên 3 loài vi giáp xác (D. lumholtzi, D. magna, Ceriodaphnia cornuta). Kết quả thực hiện đã mô tả khá chi tiết và đầy đủ sự hiện diện, phân bố của kim loại trong môi trường nước, đặc biệt là kim loại hòa tan với nồng độ nhìn chung không cao, trong giới hạn an toàn theo quy chuẩn an toàn môi trường của Việt Nam (QCVN). Tuy nhiên, hàm lượng kim loại trong trầm lắng (bùn) từ sông Mekong khá cao và ở nhiều khảo sát, nồng độ một vài kim loại (như Cr, As, ) đã vượt quy chuẩn của QCVN, và nhiều kim loại (như Cu, Ni, Fe, Cr, As) vượt chuẩn quy chuẩn về an toàn môi trường của Hoa Kỳ. Hàm lượng kim loại trong nhuyễn thể có sự thay đổi nhiều tùy theo nhóm loài và kim loại trong đó các kim loại như Cu, Zn, Cd và Pb là mối quan ngại về an toàn sức khỏe cộng đồng liên quan đến việc khai thác, sử dụng một số nhuyễn thể làm thức ăn hàng ngày. Sự tích tụ sinh học của kim loại trong nhuyễn thể đã được ghi nhận đối với các kim loại như Cu, Zn, As và Cd. Trong khi đó các kim loại như Ni, Fe, Cr và Pb không được các loài nhuyễn thể tìm thấy ở sông Mekong tích lũy sinh học trong cơ thể của chúng. Nghiên cứu ảnh hưởng của kim loại trên vi giáp xác đã cung cấp những thông tin thú vị về giá trị 48h-LC50 của Cu, Ni và Zn đối với D. lumholtzi. Theo đó độc tính cấp của ba kim loại này với vi giáp xác giảm theo thứ tự Cu > Zn > Ni và bước đầu nghiên cứu cho thấy độc tính của các kim loại này (đặc biệt Ni) có liên quan nhiều đến các yếu tố môi trường cũng như bị chi phối bởi các chất ô nhiễm khác trong môi trường nước sông. Mặc dù nghiên cứu mãn tính trong đề tài này cho thấy một số hợp chất tổng hợp (xenobiotics: atrazine, octylphenol, nonylphenol) ở nồng độ thấp (~ 5 µg/L) không ảnh hưởng đến sức ii sống của vi giáp xác, sự ảnh hưởng phụ của một số chất ô nhiễm (dù ở nồng độ rất thấp) cũng có góp phần làm tăng độc tính của kim loại hòa tan. Bên cạnh đó, từ kết quả nghiên cứu này, độc tính của kim loại đối với vi giáp xác ở nồng độ thấp rất nhiều so với ngưỡng quy định của QCVN, làm cơ sở tin cậy cho việc nên xem xét, nghiên cứu sâu hơn cho việc điều chỉnh QCVN cho kim loại trong môi trường nước mặt, góp phần cho việc bảo vệ chất lượng môi trường và sức khỏe sinh thái thủy vực. Tử kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đã đóng góp cho việc đào tạo một thạc sĩ khoa học, 10 báo cáo khoa học tại hội nghị chuyên ngành tổ chức trong nước (Cần Thơ, Huế, Hà Nội) và quốc tế (Úc, Thái Lan, Singapore) và đặc biệt là các công bố khoa học có giá trị tham khảo bao gồm: 5 bài báo trên tạp chí uy tín trong nước, 1 bài báo trên kỷ yếu hội thảo quốc tế, 3 bài báo trên tạp chí quốc tế (non-ISI), 1 bài báo trên tạp chí quốc tế ISI (SCI, IF = 3,97) và một bản thảo bài viết chuẩn bị gởi đến tạp chí ISI.)

  • Đề tài nghiên cứu Khoa học (Research Papers)


  • Authors: Huỳnh, Trần Mỹ Hòa ThS.;  Co-Author: 2017 (Vật liệu graphene được tổng hợp từ phương pháp hóa học (Graphene Oxide được khử - rGO) là một ứng cử viên hứa hẹn cho ứng dụng chế tạo cảm biến nhạy khí trong những năm gần đây do bởi các đặc tính tuyệt vời của chúng. Các nhóm chức chứa oxy khác nhau (chứa đựng các liên kết dư thừa - dangling bonds) được đính kết trên mạng carbon làm cho rGO dễ dàng hồi đáp với các phân tử khí tương thích. Các sự hồi đáp này được phân tích dựa trên những thay đổi trong tính dẫn điện của vật liệu rGO. Tuy nhiên, trong các màng rGO các vùng cấu trúc hoàn hảo và các vùng cấu trúc có sai hỏng đan xen với nhau cũng như độ dày màng không đồng đều là kết quả từ quá trình xử lý bởi các chất hóa học. Các nhân tố này đã phá vỡ các đường dẫn trong màng rGO và làm giảm tính dẫn điện của chúng. Do đó, tín hiệu nhạy khí của cảm biến chế tạo từ vật rGO thuần đã bị lu mờ và cảm biến không thể phục hồi hoàn toàn về trạng thái ban đầu ở điều kiện nhiệt độ phòng. Thật thú vị, các vật liệu nano kim loại được sử dụng đóng vai trò như các cầu nối và kết nối các mảng rGO với nhau từ đó đã cải thiện tính chất điện của tổ hợp rGO/nano kim loại được tạo thành. Trong khi, các nhóm chức năng chứa oxy trên bề mặt các màng rGO vẫn đảm bảo hoạt động hồi đáp với các phân tử khí của tổ hợp.)

  • Đề tài nghiên cứu Khoa học (Research Papers)


  • Authors: Châu, Nguyễn Xuân Quang PGS.TS.;  Co-Author: 2017 (Thành phố Cần Thơ là khu vực được dự báo chịu nhiều rủi ro do tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH), trong đó cộng đồng dân cư nghèo sẽ là cộng đồng dễ bị tổn thương nhất. Bài báo đi sâu tìm thiểu về tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng nghèo thành phố Cần Thơ. Với mục đích tìm hiểu mối liên hệ giữa các yếu tố chi phối tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng nghèo với BĐKH, bài báo hướng tới mục tiêu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng một kế hoạch chiến lược tổng thể, toàn diện phát triển bền vững cho thành phố Cần Thơ thông qua những đề xuất góp phần giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Bài báo sử dụng khung lý thuyết phân tích Tính dễ tổn thương và Năng lực thích ứng với BĐKH (CVCA) đề xuất bởi CARE để định hướng phương pháp nghiên cứu. Thông qua khảo sát xã hội học, nghiên cứu tiến hành phân tích thông tin và tính toán chỉ số dễ tổn thương theo công thức đề xuất bởi Viện giáo dục UNESCO-IHE và phương pháp tính trọng số của Iyengar-Sudarshan. Kết quả nghiên cứu đưa ra nhận định rằng tồn tại một nhu cầu thực sự về việc nâng cao năng lực thích ứng của cộng đồng nghèo thành phố Cần Thơ trong bối cảnh ảnh hưởng của BĐKH. Nghiên cứu cũng đề xuất giúp nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng nghèo, cụ thể (1) cần có những tác động bền bỉ lâu dài để nâng cao học vấn cộng đồng; (2) tạo ra một trường sinh kế đa dạng, có thu nhập ổn định là đặc biệt cần thiết, trong khi đó phổ biến thông tin về BĐKH cần có cách thức tiếp cận mang tính đặc thù dành riêng cho cộng đồng nghèo; (3) chính tại những nơi đang phát triển mạnh mẽ thì cộng đồng nghèo lại rất dễ bị bỏ rơi khỏi những chương trình hỗ trợ, trong khi chính họ là đối tượng dễ bị tổn thương.)

  • Đề tài nghiên cứu Khoa học (Research Papers)


  • Authors: Lê, Văn Hiếu PGS.TS.;  Co-Author: 2017 (Hạt nano ô xít sắt từ được tổng hợp bằng phương pháp đồng kết tủa. Qúa trình chức năng hóa 1,1’-Carbonyldiimidazole (CDI) lên bề mặt hạt nano ô xít sắt từ được thực hiện theo quy trình chính sau: Fe3O4  SiO2 (storber và Sol-gel)  3-Glycidoxypropyltrimethoxysilane (GPS)  CDI. Kết hợp kết quả phân tích từ XRD, FTIR, TEM, VSM, Zeta...xác nhận rằng chúng tôi đã tổng hợp thành công hạt nano ô xít sắt từ Fe3O4 có cấu trúc lõi@vỏ Fe3O4@SiO2 và bề mặt được chức năng bởi CDI. Hạt nano ô xít Fe3O4@SiO2 - GPS-CDI thể hiện tính siêu thuận từ. Khả năng gắn kết của hạt nano ô xít sắt từ Fe3O4@SiO2 - GPS-CDI được xác nhận thông qua việc bắt giữ được Protein A. Các nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu suất bắt giữ Protein A đang được tiến hành.)