Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Trần, Công Thành, ThS.;  Co-Author: 2016 (Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong vùng bùng phát và lan truyền của dịch bệnh tay, chân, miệng (TCM); trong đó, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là địa phương có số trường hợp mắc bệnh và tử vong do bệnh TCM nhiều nhất trong cả nước. TCM là một loại bệnh truyền nhiễm mà sự bùng phát và lan truyền của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố thời tiết. Tuy nhiên, ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng, chưa có nghiên cứu sâu sát nào phân tích mối tương quan giữa yếu tố thời tiết và bệnh TCM. Do vậy, đề tài “Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết đối với bệnh tay, chân, miệng tại thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2010-2014” được thực hiện nhằm xác định mối tương quan giữa bệnh TCM và các yếu tố thời tiết, từ đó hỗ trợ cho việc nhận biết và kiểm soát dịch bệnh TCM tại TP.HCM. Dữ liệu thời tiết và số trường hợp hiện mắc bệnh TCM ở trẻ em từ 0 đến 5 tuổi tại TP.HCM trong giai đoạn từ tháng 08 năm 2010 đến tháng 12 năm 2014 được sử dụng để thực hiện nghiên cứu. Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích chuỗi thời gian và phân tích hồi quy tương quan thông qua phần mềm R 3.1.1 để xem xét mối tương quan giữa bệnh TCM và các yếu tố thời tiết. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tồn tại mối tương quan giữa tỷ suất hiện mắc bệnh TCM và 5 yếu tố thời tiết: nhiệt độ trung bình, độ ẩm trung bình, độ ẩm nhỏ nhất, lượng mưa và chỉ số dao động Nam (SOI) ở mức ý nghĩa 5%. Các yếu tố thời tiết có sự ảnh hưởng khác nhau đối với tỷ suất hiện mắc bệnh TCM ở các độ tuổi khác nhau. Ngoài ra, các yếu tố thời tiết khác nhau cũng ảnh hưởng đến bệnh TCM theo các độ trễ pha khác nhau. Nghiên cứu cũng ước tính khả năng thay đổi của bệnh TCM khi một trong các yếu tố thời tiết thay đổi. Từ phương trình hồi quy tương quan được xây dựng, nghiên cứu phản ánh được sự ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết đối với bệnh TCM. Đồng thời, với độ trễ pha tìm được, nghiên cứu hỗ trợ việc nhận biết sự bùng phát của dịch bệnh TCM, từ đó, đóng góp vào công tác phòng ngừa và kiểm soát bệnh TCM tại TP.HCM. Từ khóa: sốt xuất huyết, tay-chân-miệng, thời tiết, biến đổi khí hậu, dịch tễ học, bệnh truyền nhiễm)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Văn Đông, TS.;  Co-Author: 2016 (Hệ thống dựa trên thiết bị GC Agilent 5890 và đầu dò AFS PS Analytical có sẵn. Hai thiết bị này được ghép nối với nhau qua 1 giao diện tự thiết kế. Một số linh kiện trên GC và đầu dò AFS đã được thiết kế lại và hiệu chỉnh cho phù hợp với chức năng của hệ thống ghép nối. Các thông số vận hành của hệ thống như giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng, khoảng tuyến tính, độ ổn định đã được đánh giá. Trong quy trình phân tích methyl thủy ngân, dung dịch ly trích đã được cải tiến cho phù hợp với điều kiện mẫu thực tế của Việt Nam và đã được đánh giá khách quan bằng vật liệu chuẩn quốc tế có chứng nhận; các tác nhân tạo dẫn xuất như sodium tetraethylborate, ethyl magnesium chloride và butyl magnesium chloride cũng được nghiên cứu và đánh giá hiệu năng sử dụng. Phương pháp phân tích thủy ngân tổng số cũng được kiểm tra lại và cải tiến cho phù hợp với trang thiết bị và điều kiện hóa chất của phòng thí nghiệm. Phương pháp phân tích methyl thủy ngân và thủy ngân tổng số đã được áp dụng trên các mẫu bùn lắng kênh rạch Tp. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy hệ thiết bị phân tích có giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng cho các hợp chất dialkyl thủy ngân khác nhau lần lượt là 0.88 ÷ 1.1pg Hg và 1.8 ÷ 2.1 pg Hg. Khoảng tuyến tích là 0.5 - 18 pg Hg. Các giá trị này phù hợp với các hệ tương tự đã công bố. Dung dịch ly trích gồm HNO3/KCl/CuSO4 phù hợp tốt hơn dung dịch ly trích gồm H2SO4/KBr/CuSO4 đối với các nền mẫu chứa TOC và tổng sulfur nồng độ cao như vật liệu chuẩn có chứng nhận là bùn lắng ERM-CC580 và một số mẫu thực. Với phương pháp phân tích đã tối ưu, hiệu suất thu hồi đối với các mẫu bùn lắng là 85 ÷ 102% và kết quả phân tích MeHg trong vật liệu chuẩn (75 ± 4 ng/g) là 75.6 ± 2.8 ng/g , 75.13 ± 0.45 ng/g, và 75.10 ± 0.48 ng/g tương ứng với các tác nhân tạo dẫn xuất NaBEt4, BuMgCl và EtMgCl. Hàm lượng MeHg và Hg tổng số trong 50 mẫu bùn lắng kênh rạch Tp. Hồ Chí Minh tương ứng là 0.08 ÷ 2.87 ng/g và 14.7 ÷ 622 ng/g. Kết quả này cho thấy nguồn gây ô nhiễm Hg trong bùn lắng kênh rạch địa bàn Tp. Hồ Chí Minh chủ yếu là do các hoạt động nhân sinh và mức độ ô nhiễm thấp hơn các nước trong khu vực và trên thế giới. Tóm lại, hệ thống GC-AFS và quy trình phân tích có thể được triển khai và áp dụng hỗ trợ cho các nghiên cứu và phân tích methyl thủy ngân tại Việt Nam mà không phải gởi mẫu phân tích sang nước ngoài như trước đây)

  • Working Paper


  • Authors: Phan, Thị Phượng Trang, TS.;  Co-Author: 2016 (Vi mất đoạn trên nhiễm sắc thể (NST) Y là một trong những nguyên nhân gây vô sinh ở nam giới, chiếm tỉ lệ từ 2-10% và xảy ra thường xuyên tại 3 vùng AZFa, AZFb, AZFc (nhân tố azoospermia) thuộc cánh dài nhiễm sắc thể (NST) Y. Hiện nay việc chẩn đoán vi mất đoạn trên NST Y hầu như là bắt buộc trước khi tiến hành lựa chọn các phương pháp điều trị hay hỗ trợ sinh sản tiếp theo tại các bệnh viện và trung tâm điều trị vô sinh hiếm muộn. Để phát hiện vi mất đoạn trên 3 vùng AZF, SRY, ZFY của NST Y hiện nay phải sử dụng kỹ thuật Multiplex – PCR do European Academy of Andrology/European Molecular Genetics Quality Network (EAA/EMQN) đưa ra. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là sản phẩm Multiplex – PCR có kích thước tương đương nhau nên vạch điện di rất gần nhau, gây khó khăn cho thao tác chẩn đoán. Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi đã thiết kế lại các cặp mồi cũng bắt cặp trên vùng gene được EAA/EMQN khuyến cáo nhưng sản phẩm PCR có kích thước khác biệt rõ rệt, vạch DNA điện di phân tách xa nhau nhằm tạo thuận lợi cho công tác chẩn đoán. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tạo được những plasmid tái tổ hợp có mang các gene cần kiểm tra để làm mẫu đối chứng cho bộ kit.)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Thị Thanh Phượng, TS.;  Co-Author: 2016 (Hiện nay, vấn đề về mùi là mối quan tâm hàng đầu của xã hội vì ô nhiễm mùi đã ảnh hưởng đáng kể đến tiện nghi và chất lượng sống của cộng đồng dân cư, góp phần làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Một số ngành công nghiệp điển hình gây ô nhiễm mùi là thuộc da, chế biến thủy sản, chế biến mủ cao su, chế biến tinh bột mì, chăn nuôi, chế biến thuốc trừ sâu, vv ... Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu xác định các thành phần của hợp chất có mùi, cũng như các nghiên cứu đánh giá mùi từ các ngành công nghiệp điển hình. Do đó, nghiên cứu được thực hiện để xác định và đánh giá các hợp chất mùi trên 8 loại hình công nghiệp gây mùi đặc trưng và định hướng công nghệ xử lý, giảm thiểu ô nhiễm mùi trên các loại hình công nghiệp này. Kết quả nghiên cứu cho thấy 3 ngành công nghiệp gây ô nhiễm mùi nghiêm trọng là ngành công nghiệp thuộc da, chế biến thức ăn chăn nuôi và thủy sản với nồng độ, lưu lượng khí phát thải và tải lượng ô nhiễm cao. Theo khảo sát, đa phần các loại hình công nghiệp này có lưu lượng khí thải cao trên 40.000 m3/phút. Tuy nhiên, tại các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp quy mô phát thải từng hộ cá thể thấp nhưng tải lượng ô nhiễm phát sinh của cả khu vực khá cao do các hộ hoạt động trong cùng một loại hình sản xuất. Các thành phần chính của mùi trong thuộc da là VOC (hình thành từ quá trình phân hủy da), NH3 và H2S, aldehyde (hình thành từ quá trình tẩy lông, khử vôi, quá trình thuộc da và hệ thống xử lý nước thải). Tương tự, ngành chế biến thủy sản và sản xuất thức ăn chăn nuôi phát sinh mùi là các khí amoniac, mercaptans, VOC, H2S, amine... từ nhiều nguồn như khu vực tiếp nhận, quá trình chế biến, sấy khô, khu vực lưu trữ, khu vực xử lý nước thải... Trong đó, nguồn chủ yếu và lớn nhất là từ công đoạn sấy. Ngành chế biến mủ cao su thiên nhiên và chăn nuôi có mức độ ô nhiễm mùi tương đối cao. Mùi ô nhiễm lan tỏa cả một khu vực rộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống và hệ sinh thái. Mùi hôi ngành chế biến mủ cao su thiên nhiên phát sinh trong công đoạn tiếp liệu, sơ chế, sấy và từ hệ thống xử lý nước thải với khí phát sinh bao gồm NH3, H2S, CH3OH và axit béo bay hơi (VFAs). Hiện nay, các nhà máy sơ chế có quy mô lớn do vậy tải lượng ô nhiễm cao. Bên cạnh đó, nguồn phát sinh khí gây mùi chủ yếu trong ngành chăn nuôi là nước tiểu, phân của vật nuôi. Quá trình phân hủy sinh học của vi sinh vật sẽ sản sinh các khí như NH3, H2S, mercaptan gây ô nhiễm môi trường. Ngành chế biến tinh bột mì, rượu bia, hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật cũng có khả năng gây ô nhiễm mùi nhưng mức độ ô nhiễm không nghiêm trọng bằng các ngành nêu trên. Các ngành này thường được đầu tư hệ thống xử lý khí thải nên nồng độ ô nhiễm thấp cộng với lưu lượng khí phát thải không lớn. Tùy thuộc vào quy mô, tính chất nguồn thải, thành phần và nồng độ các chất ô nhiễm hiện diện trong khí thải mà công nghệ xử lý được đề xuất. Thông thường, để xử lý triệt để ô nhiễm mùi phải kết hợp quá trình như hóa học, hóa lý và sinh học. Trong đó, quá trình hấp v thụ, lọc sinh học và hấp phụ than hoạt tính được ưu tiên lựa chọn. Đối với các ngành sản xuất quy mô nhỏ, có thể lựa chọn công nghệ rửa khí ướt kết hợp oxy hóa để xử lý mùi)

  • Working Paper


  • Authors: Phạm, Thị Thu Hằng, TS.;  Co-Author: 2016 (Rác thải hiện nay đang là một trong những vấn đề môi trường của mọi quốc gia do số lượng lớn, và có khả năng gây ô nhiễm không khí, đất, nước ngầm. Hiện tại, quá trình ủ compost thường đã được áp dụng rộng rãi cho việc xử lí rác thải hữu cơ. Sản phẩm cuối của quá trình này là compost, có thể được sử dụng như phân bón hữu cơ. Các vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy qui trình và gia tăng chất lượng của sản phẩm cuối. Trong nghiên cứu này, kĩ thuật đếm vi khuẩn tổng số và kĩ thuật sinh học phân tử PCR-DGGE đoạn gen 16S rRNA đã được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc và các thay đổi của cộng đồng vi khuẩn trong quá trình ủ compost rác thải sinh hoạt ở quy mô công nghiệp. DNA vi khuẩn tổng số trong mẫu compost được tách chiết và vùng đa hình V3-V5 của gen 16S rRNA đã được khuếch đại bằng phản ứng nested-PCR, sử dụng các cặp mồi 27F /1492R và 341F-GC/907R. Các sản phẩm khuếch đại từ phản ứng nested PCR được phân tách bởi kĩ thuật điện di gel gradient chất biến tính (DGGE). Bộ mã vạch DGGE của gen 16S rRNA sau đó được sử dụng như đầu vào cho phân tích UPGMA dựa trên hệ số tương đồng Jaccard và các mẫu có dạng mã vạch giống nhau được gom lại theo nhóm. Kết quả phân tích cho thấy cấu trúc của cộng đồng vi khuẩn biến đổi mạnh trong quá trình ủ compost. Bên cạnh đó, kĩ thuật phân tích PCR-DGGE đã chỉ ra có sự tương tác mạnh giữa các yếu tố hóa lí và cộng đồng vi khuẩn, trong số đó nhiệt độ có thể là yếu tố môi trường quan trọng nhất trong việc thay đổi cấu trúc của hệ vi khuẩn)

  • Working Paper


  • Authors: Bùi, Thị Luận, TS.;  Co-Author: 2016 (Dựa vào đặc trưng cấu trúc cũng như các điều kiện địa tầng, trầm tích và hệ thống dầu khí, có thể đánh giá triển vọng dầu khí khu vực Bắc Bể Sông Hồng nói chung và Lô A và B nói riêng. Các cấu tạo chứa khí có triển vọng cao như Hồng Hà, Sapa, Bạch Long Bắc. Các cấu tạo chứa dầu có triển vọng cao như Hậu Giang, Vàm Cỏ Đông.Các cấu tạo chứa khí có triển vọng thấp: Cây Quất, Bến Hải. Các cấu tạo chứa dầu có triển vọng thấp như Vàm Cỏ Tây, Cấu tạo Chí Linh, Đồ Sơn, Tiên Lãng. Dựa trên kết quả minh giải tài liệu địa chấn, 03 vị trí giếng khoan đã được xem xét và lựa chọn khoan trên các cấu tạo triển vọng nhất là HN, P và HĐ. Với kết quả phát hiện khí-condensate ở các cấu tạo H N và HĐ. Năm 2013-2014 PVEP đã tiến hành thi công giếng khoan: B-HN-1X và B-HD-1X tại lô A&B. Trữ lượng phát hiện HN Trữ lượng tại chỗ phát hiện Hàm Rồng Nam, tại giếng khoan HN-1X có trữ lượng cấp P1 là 76,15 tỷ bộ khối khí và 9,36 triệu thùng condensat ngưng tụ; cấp P2 là 32,54 triệu thùng dầu và 40,91 tỷ bộ khối khí đồng hành, cấp P3 là 1,48 triệu thùng dầu và 1,86 tỷ bộ khối khí đồng hành . Trữ lượng phát hiện HĐ Trữ lượng phần trầm tích lục nguyên cho 4 sand: trữ lượng tại chỗ cấp P1 là 4,28 triệu thùng condensate, cấp P2 là 7,86 triệu thùng condensate và cấp P3 là 0,77 triệu thùng condenate. Trữ lượng phát hiện trong carbonat: trữ lượng tại chỗ cấp P1 là 0,79 triệu thùng condensate và 9,52 tỷ bộ khối khí, trữ lượng tại chỗ cấp P2 là 3,72 triệu thùng condenstate và 44,59 tỷ bộ khối khí, trữ lượng tại chỗ cấp P3 là 4,19 triệu thùng condensate và 50,27 tỷ bộ khối khí. Trữ lượng tiềm năng dầu khí còn lại: Khu vực phía Đông Bắc và Đông Nam: Tổng trữ lượng tại chỗ là 721,58 triệu thùng tại chỗ. Khu vực phía Tây Nam và Tây Bắc: Tổng trữ lượng tiềm năng cho khu vực này là 1567,89 tỷ bộ khối khí. Phân vùng triển vọng dầu khí các khu vực:Trũng trung tâm, Đông Bắc, Tây Nam Định hướng tìm kiếm thăm dò tiếp theo: tiến hành thăm dò và thẩm lượng khoảng thời gian 2 năm. Tái xử lý, minh giải tài liệu địa chấn 3D; khoan 2 giếng khoan thăm dò/thẩm lượng: Giếng khoan thẩm lượng HD-2X phát triển ba cấu tạo: VĐ, HĐ, HN. Giếng khoan thẩm lượng HN-2X phát triển hai cấu tạo: HĐ, HN.)