Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Hứa Phùng, TS.;  Co-Author: 2015 (Ngày nay, khoa học - kỹ thuật phát triển không ngừng và được áp dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực. Trong lĩnh vực giáo dục, người học, người dạy, và cả đơn vị đào tạo được hỗ trợ ngày một nhiều từ nội dung đến phương pháp và cả loại hình đào tạo ở các cấp bậc đào tạo khác nhau, … Ngoài ra, theo thời gian, lượng thông tin - dữ liệu về giáo dục ở các đơn vị đào tạo được thu thập và tích trữ nhiều. Nếu lượng thông tin - dữ liệu này được xử lý – phân tích phù hợp thì kết quả rút trích - khai phá được sẽ góp phần hỗ trợ vào các hoạt động học tập - giảng dạy trong tương lai tại các đơn vị này. Do đó, lĩnh vực khai phá dữ liệu về giáo dục đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm. Một số vấn đề gặp phải trong giáo dục nói chung và giáo dục từ xa nói riêng đã được nhận diện và hỗ trợ bởi các kỹ thuật khai phá – phân tích dữ liệu trong các công trình học thuật gần đây. Trong bối cảnh cụ thể ở mỗi đơn vị đào tạo, các đặc điểm riêng biệt của các yếu tố khác nhau về con người, nơi chốn, lĩnh vực đào tạo,… sẽ dẫn đến các vấn đề khác nhau và dữ liệu thu thập được cũng sẽ mang những đặc điểm khác nhau. Dữ liệu này cần được khai phá – phân tích sao cho phù hợp với các đặc điểm riêng này và có thể đem lại giá trị lợi ích lớn nhất cho các hoạt động học tập - giảng dạy trong tương lai theo hướng phát triển chung của kinh tế - xã hội – khoa học - kỹ thuật. Vì vậy, việc lựa chọn và phát triển các kỹ thuật khai phá dữ liệu về giáo dục nhằm rút trích ra thông tin có thể được dùng để hỗ trợ ra quyết định là một vấn đề cần được xem xét. Ngoài ra, việc đưa các kết quả khai phá – phân tích dữ liệu vào hỗ trợ các vấn đề cụ thể của mỗi đơn vị đào tạo cũng là một thử thách trong lĩnh vực khai phá dữ liệu về giáo dục. Từ đó, mục tiêu chính của đề tài được đề xuất trong báo cáo này là phát triển hệ thống hỗ trợ ra quyết định về giáo dục nói chung; trong đó, khai phá – phân tích dữ liệu về giáo dục được tận dụng. Khi hệ thống được hoàn tất, những đóng góp được dự kiến như sau: - Tổ chức - quản lý dữ liệu sao cho dữ liệu có thể được truy xuất - xử lý hiệu quả và có thể được tận dụng trong việc khai phá – phân tích dữ liệu và sau cùng là trong việc hỗ trợ ra quyết định - Cung cấp thông tin phân tích - rút trích được từ lượng dữ liệu có được tùy theo yêu cầu/vấn đề cần được giải quyết và hỗ trợ ra quyết định - Cung cấp các tiện ích hỗ trợ ra quyết định)

  • Working Paper


  • Authors: Lê, Trung Chơn, TS.;  Co-Author: 2015 (Nghiên cứu nhằm phân tích đánh giá phương pháp tính toán thiết kế hệ thống thoát nước đang được áp dụng hiện nay và những tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống thoát nước đô thị. Những yếu tố bất định ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước được nhận dạng và phân tích. Từ đó đánh giá sự phù hợp của phương pháp tiếp cận thoát nước truyền thống hiện nay. Tiếp theo đó, nghiên cứu đề xuất phương pháp tiếp cận giải quyết thoát nước đô thị trong điều kiện BĐKH và đề xuất chiến lược quản lý phù hợp cho hệ thống thoát nước trong điều kiện BĐKH. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất một hệ thống hỗ trợ ra quyết định không gian cho thoát nước đô thị bằng các giải pháp công trình. ABSTRAC)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Tiến Lực, PGS.TS.;  Co-Author: 2015 (Trong những năm gần đây, vị thế của Việt Nam ở Đông Nam Á, đặc biệt trong Tiểu vùng sông Mekong đang lên rất cao. Việc xác định vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhóm nghiên cứu, từ góc độ chuyên môn của mình, muốn thông qua mối quan hệ với Nhật Bản, một cường quốc, có quan hệ mật thiết với khu vực để xem xét vị thế của Việt Nam trong Tiểu vùng Mekong. Trong quan hệ của Nhật Bản với Tiểu vùng sông Mekong, Nhật Bản coi trọng vị thế của Việt Nam và gần đây, khi hai nước nâng cấp quan hệ song phương lên tầm cao mới - quan hệ đối tác chiến lược, Nhật Bản coi Việt Nam như là một quốc gia trung tâm ở khu vực Tiểu vùng sông Mekong. Đây là công trình nghiên cứu mới, với cách tiếp cận mới góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu quan hệ Nhật Bản đối với khu vực và vị thế của Việt Nam trong Tiểu vùng Mekong. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là, qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống quan hệ giữa Nhật Bản Tiểu vùng Mekong từ năm 1957 đến nay xác định vị thế của Việt Nam trong Tiểu vùng sông Mekong. Công trình sẽ làm sáng tỏ những vấn đề cụ thế của nó như: Quá trình hình thành Tiểu vùng sông Mekong như là một khu vực địa-chính trị, địakinh tế; quan hệ giữa Nhật Bản và Tiểu vùng sông Mekong; Đánh giá vị thế của Việt Nam trong Tiểu vùng Mekong từ quan hệ với Nhật Bản. Kết quả nghiên cứu này cho phép chúng ta rút ra kết luận: Tiếp cận từ quan hệ giữa Nhật Bản, Việt Nam có vị trí địa-chính trị, địa- kinh tế và địa chiến lược ngày càng quan trọng ở Tiểu vùng sông Mekong. Để nâng cao hơn nữa vị thế của mình ở khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần tích cực, chủ động tăng cường quan hệ với các nước trong Tiểu vùng đồng thời thúc đẩy hơn nữa quan hệ với các cường quốc, ví như Nhật Bản. Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng như hội nhập quốc tế như hiện nay, các quốc gia đều nổ lực xác lập vị thế của mình ở khu vực và trên thế giới. Kết quả nghiên cứu vị thế của Việt Nam ở Tiểu vùng sông Mekong trong mối quan hệ giữa Nhật Bản góp phần làm sáng tỏ vai trò to lớn của Việt Nam trong việc thúc đẩy sự phát triển của một trong số những mối quan hệ đa phương quan trọng nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Thêm vào đó, nó còn góp phần thúc đẩy mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản lên một tầm cao mới.)

  • Working Paper


  • Authors: Cung, Hoàng Phi Phượng, ThS.;  Co-Author: 2015 (Ớt là loài cây gia vị có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Đây là một loài cây hoa màu quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mexico, Thái Lan… Diện tích và năng suất trồng ớt trên thế giới tăng đều qua các năm. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, cây ớt đang ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong ngành trồng trọt, diện tích trồng ớt cũng tăng nhanh. Vì vậy, nhu cầu về hạt giống ớt chất lượng cao hiện nay là rất lớn. Ngày càng nhiều công ty giống tại Việt Nam quan tâm đầu tư sản xuất hạt giống F1 thương mại. Việc sản xuất hạt giống F1 ở quy mô lớn thường gặp nhiều khó khăn do sự tự thụ phấn của cây mẹ. Hiện tượng bất dục đực tế bào chất ở ớt chính là giải pháp hiệu quả nhất cho vấn đề trên. Nhờ vào việc tránh được hoàn toàn hiện tượng tự thụ phấn ở cây mẹ, cây ớt bất dục đực tế bào chất có thể giúp nâng cao đáng kể năng suất và chất lượng hạt giống, đồng thời giúp tiết kiệm chi phí nhân công. Chính vì lí do đó, việc chọn lọc, lai tạo các dòng ớt bất dục ngày càng được quan tâm. Việc tìm ra phương pháp xác định sớm và chính xác các dòng ớt bất dục sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ lai tạo các dòng bất dục đực phục vụ cho sản xuất hạt giống ớt thương mại. Trên cơ sở đó, đề tài đã tiến hành khảo sát khả năng ứng dụng các bộ mồi nhằm xác định sớm và chính xác các dòng quan trọng trong hiện tượng bất dục đực ở ớt bằng phương pháp PCR. Kết quả khảo sát cho thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa đột biến ở đầu 3’ gen coxII với tế bào chất bất dục ở cả ba dòng ớt được khảo sát (Chỉ Thiên, Sừng Vàng, Sừng Đỏ), đồng thời cũng khẳng định được vai trò của allele trội Rf trong sự phục hồi khả năng hữu thụ. Việc kết hợp các bộ mồi coxIISCAR hoặc coxTri-M1 với RfSCAR cho phép xác định chính xác dòng bất dục đực và dòng duy trì tính bất dục ở các giống ớt được khảo sát. Kết quả thu được cho thấy tính khả thi trong việc ứng dụng các bộ primer này nhằm tăng hiệu quả của quá trình chọn tạo các dòng quan trọng ở cây ớt tại Việt Nam.)

  • Working Paper


  • Authors: Trần, Lê Bảo Hà, PGS.TS.;  Co-Author: 2015 (Regeneration of dentin tissues in the pulp space of teeth serves the ultimate goal of preserving teeth via endodontic approaches. In recent times, many studies suggested that human dentin scaffolds combined with dental stem cells was a potential strategy for the complete dentin tissue regeneration. In this study, human dental pulp stem cells (DPSCs) were isolated and cultured. Dentin specimens were prepared from human third molars and treated with ethylene diamine tetra-acetic acid and citric acid to remove the smear layer. Then, DPSCs were cultured onto human treated dentin (hTD) and implanted in mouse model for 4, 6 and 8 weeks. The resulting grafts were assessed by hematoxylin and eosin stain and immunohistochemical stains. As a result, DPSCs were supported and induced to regenerate of dentin-like tissues which expressed specific dentin markers such as dentin sialophosphoprotein and dentin matrix protein 1 by combination with hTD in vivo. Furthermore, cells existed in the newly-formed dentin-like tissues also expressed typical human mitochondria antibodies, demonstrated that new tissues originated from human. In conclusion, the obtain results extend hopefully newly-established therapy to apply in endodontics and traumatic dental hard tissues.)

  • Working Paper


  • Authors: Phạm, Gia Trân, TS.;  Co-Author: 2015 (Ngập nƣớc và nhiệt độ tăng là các vấn đề môi trƣờng đang đƣợc quan tâm tại thành phố Hồ Chí Minh. Các biến đổi môi trƣờng tự nhiên này đang gây ra các tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội thành phố, đời sống, sinh hoạt của ngƣời dân và sức khỏe của cộng đồng. Nghiên cứu này đƣợc thực hiện để nhận dạng sự liên hệ giữa tình hình bệnh tật với ngập nƣớc và nhiệt độ tăng trong cộng đồng dân cƣ. Các phát hiện nghiên cứu sẽ đóng góp các thông tin hữu ích và đề nghị cho ngành y tế dự phòng và chính sách thích ứng BĐKH của Quốc gia. Nghiên cứu đƣợc tiến hành với số mẫu là 800 hộ gia đình cƣ trú tại 6 quận huyện đại diện cho khu vực trung tâm, vùng ven và khu ngoại thành của thành phố. Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận định lƣợng và định tính để phân tích nhận thức của ngƣời dân về tình trạng ngập nƣớc và nhiệt độ tăng tại nơi cƣ trú, mối quan hệ giữa ngập nƣớc và bệnh tật, tình hình bệnh tật của hộ gia đình và hành vi ứng phó. Để giảm thiểu các nguy cơ sức khỏe gây ra do ngập nƣớc tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu đƣa ra các kiến nghị liên quan đến giảm thiểu ngập nƣớc và nhiệt độ tăng, công tác y tế dự phòng và cải thiện điều kiện sống của các cộng đồng dân cƣ nghèo.)

  • Working Paper


  • Authors: Phan, Bách Thắng, PGS.TS.;  Co-Author: 2015 (Các màng mỏng WOx có độ dày 300 nm được chế tạo bằng phương pháp phún xạ phản ứng trong môi trường khí hỗn hợp O2 + Ar, tỉ lệ khí ô xi trong hỗn hợp là 45 % và 90 %, ở nhiệt độ phún xạ 300 oC. Màng mỏng WOx có tỉ lệ 90% khí ô xi được ủ trong môi trường không khí ở nhiệt độ 300 oC và 600 oC. Kết quả từ XRD và FTIR cho thấy các màng mỏng WOx được chế tạo theo các điều kiện trên có cấu trúc tinh thể ở dạng đơn tà (monoclinic) và độ kết tinh của màng mỏng WOx tăng theo nhiệt độ ủ. Phổ XPS xác nhận sự tồn tại đa số của W6+ chứng tỏ rằng các màng mỏng tồn tại ở pha WO3. Kết quả FESEM, AFM cho thấy hình thái học bề mặt của các màng WO3 phụ thuộc vào nhiệt độ ủ: kích thước các hạt tinh thể và độ gồ ghề bề mặt màng WO3 tăng theo nhiệt độ ủ. Đặc trưng dòng - thế và đảo điện trở thuận nghịch của các màng WO3 được khảo sát trong 4 cấu trúc (Ag/WO3/Pt, Ag/WO3/FTO, Ti/WO3/Pt và Ti/WO3/FTO) với 2 loại điện cực đáy là Pt, FTO và điện cực đỉnh Ag, Ti. Đặc trưng đảo điện trở thuận nghịch dạng lưỡng cực chỉ xuất hiện 03/04 cấu trúc: Ag/WO3/Pt, Ag/WO3/FTO và Ti/WO3/FTO. Một kết quả quan trọng là chiều đảo điện trở của 2 cấu trúc (Ag/WO3/Pt, Ag/WO3/FTO) ngược với chiều đảo điện trở của cấu trúc Ti/WO3/FTO. Các kết quả trên cho thấy bản chất của vật liệu điện cực (Pt, Ti: trơ; FTO: ô xít; Ag: phản ứng) ảnh hưởng lớn đến khả năng đảo điện trở của màng mỏng WO3. Khả năng đảo điện trở thuận nghịch của màng WO3 được khảo sát theo tỷ lệ khí riêng phần ô xi (45 % và 90%) trong cấu trúc Ag/WO3/Pt: kết quả cho thấy màng WO3 được tổng hợp ở 2 tỷ lệ khí ô xi trên đều thể hiện đặc trưng đảo điện trở thuận nghịch dạng lưỡng cực theo chiều kim đồng hồ và không có khác biệt đáng kể. Như vậy, khả năng đảo điện trở của màng mỏng WO3 không phụ thuộc vào tỷ lệ khí riêng phần ô xi. Khảo sát tỷ số đảo điện trở SR giữa hai trạng thái điện trở cao và điện trở thấp của màng mỏng WO3 cho thấy SR phụ thuộc vào nhiệt độ nung, độ dày màng mỏng WO3, vật liệu điện cực (Pt và FTO): SR giảm khi tăng nhiệt độ nung, giảm độ dày màng. So sánh 2 cấu trúc Ag/WO3/FTO và Ag/WO3/Pt cho thấy cấu trúc Ag/WO3/Pt có khả năng ứng dụng trong bộ nhớ điện trở RERAM vì có tỷ số SR lớn hơn (20 – 70), trong khi đó tỷ số của cấu trúc Ag/WO3/FTO nhỏ hơn 10. Màng mỏng WO3 có độ dày 25 nm chưa được ủ nhiệt trong 5 cấu trúc Ag/25nm-WO3/Pt có SR > 10 cho thấy khả năng ứng dụng trong linh kiện ở kích thước nm. Cơ chế truyền dẫn điện tích trong hai cấu trúc đảo điện trở theo chiều kim đồng hồ Ag/WO3/FTO và Ag/WO3/Pt được đề xuất là cơ chế dòng điện tích không gian được điều khiển bởi bẫy, dòng đạn đạo và dòng xuyên hầm (trạng thái điện trở cao); dòng dẫn Ohmic (trạng thái điện trở thấp). Cơ chế đảo điện trở thuận nghịch tương ứng được xác định là cơ chế ô xy hoá khử đường dẫn kim loại Ag trong khối màng mỏng WO3. Tỷ số đảo điện trở thuận nghịch SR giảm theo nhiệt độ nung được giải thích như sau: màng mỏng WO3 chưa được ủ nhiệt có độ kết tinh thấp nên các ion Ag+ dễ dàng di chuyển xuyên qua lớp ô xít WO3 từ điện cực đỉnh Ag để đến điện cực đáy Pt; Các màng mỏng WO3 được ủ nhiệt ở 300 và 600 oC có độ kết tinh cao hơn nên ngăn cản việc di chuyển của ion Ag+, kết quả là khả năng đảo điện trở suy giảm. Với chiều đảo điện trở thuận nghịch ngược với 2 cấu trúc (Ag/WO3/Pt và Ag/WO3/FTO), cơ chế truyền dẫn điện tích được đề xuất là: dòng điện tích không gian được điều khiển bởi bẫy và xuyên hầm (trạng thái điện trở cao); dòng đạn đạo (trạng thái điện trở thấp). Cơ đảo điện trở của cấu trúc Ti/WO3/FTO được xác định là sự thay đổi độ cao rào thế tại mặt phân giới WO3/FTO do sự dịch chuyển thuận nghịch của ion âm ô xi dưới tác dụng của chiều điện trường ngoài.)