Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Hồ, Quốc Bằng;  Advisor: Bùi, Tá Long;  Co-Author: 2015 (Theo công bố của Tổ chức Y Tế thế giới vào năm 2012, ô nhiễm không khí xung quanh là nguyên nhân gây ra 3,7 triệu người chết hàng năm trên thế giới và có hơn 4,3 triệu người chết hàng năm là do ô nhiễm không khí trong nhà. Ô nhiễm không khí là nguyên nhân gây chết người nhiều nhất trong số các loại ô nhiễm môi trường (chiếm 7,7 % người chết trong tổng số tất cả các nguyên nhân) (Carlos Dora, 2014). Công việc cấp thiết hiện nay là phải tính toán và ước lượng tác động của ô nhiễm không khí lên sức khỏe cộng đồng và thiệt hại kinh tế do chúng gây ra. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này: nghiên cứu phân bố bụi PM10 và mối liên quan với sức khỏe cộng đồng từ đó đề xuất giải pháp phòng tránh bệnh tật. Sử dụng các mô hình EMISENS để kiểm kê phát thải PM10, sử dụng các mô hình FVM để mô phỏng khí tượng và mô hình TAPOM để mô phỏng và lập bản đồ ô nhiễm PM10. Đề tài cũng đã tiến hành điều tra và phỏng vấn bệnh liên quan ô nhiễm không khí tại Quận 5. Sau đó áp dụng lý thuyết trong mô hình BenMAP để tính toán và ước lượng số người tử vong và thiệt hại kinh tế do ô nhiễm PM10. Từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm PM10 và bảo vệ sức khỏe người dân. Kết quả đề tài chỉ ra rằng: (i) Kết quả tính toán phát thải PM10 tại Quận 5 cho thấy Giao thông là nguồn phát thải PM10 chính tại Quận 5. Hoạt động giao thông chiếm hơn 83% tổng phát thải PM10. Trong nguồn giao thông thì xe gắn máy là phát thải nhiều nhất chiếm 24%, xe tải nặng chiếm 23%, xe tải nhẹ chiếm 19% còn lại là xe hơi và xe buýt. (ii) Kết quả mô phỏng lan truyền PM10 tại Quận 5 cho thấy nồng độ trung bình năm của PM10 tại Quận 5 khoảng 30 µg/m3. Trong đó ô nhiễm cao nhất thuộc các phường 4, 8, 3 và 9 phía đông bắc của Quận 5. Nồng độ trung bình cao nhất là 48.9 µg/m3 tại Phường 4, nồng độ trung bình thấp nhất là 16.8 µg/m3 tại Phường 13. Chất lượng không khí ở tất cả các phường của Quận 5 không vượt tiêu chuNn PM10 của Việt Nam QCVN 05 : 2013 (50 µg/m3) nhưng trong đó lại có 12/15 phường từ phường 1 đến phường 12 vượt quy chuNn cho phép của WHO (20 µg/m3). (iii) Kết quả của mô hình BenMAP tính toán và ước lượng số người bị tử vong do ảnh hưởng PM10 là 5 người/năm trên tổng số dân là 194.228 người. Chiếm tỷ lệ 0.0025% tổng dân số của Quận 5. Kết quả tính toán và ước lượng thiệt hại kinh tế của Quận 5 thông qua số người tử vong và điều này gây tổn thất về mặt kinh tế là hơn 900 tỷ đồng cho Quận 5.)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Hứa Phùng, TS.;  Co-Author: 2015 (Ngày nay, khoa học - kỹ thuật phát triển không ngừng và được áp dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực. Trong lĩnh vực giáo dục, người học, người dạy, và cả đơn vị đào tạo được hỗ trợ ngày một nhiều từ nội dung đến phương pháp và cả loại hình đào tạo ở các cấp bậc đào tạo khác nhau, … Ngoài ra, theo thời gian, lượng thông tin - dữ liệu về giáo dục ở các đơn vị đào tạo được thu thập và tích trữ nhiều. Nếu lượng thông tin - dữ liệu này được xử lý – phân tích phù hợp thì kết quả rút trích - khai phá được sẽ góp phần hỗ trợ vào các hoạt động học tập - giảng dạy trong tương lai tại các đơn vị này. Do đó, lĩnh vực khai phá dữ liệu về giáo dục đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm. Một số vấn đề gặp phải trong giáo dục nói chung và giáo dục từ xa nói riêng đã được nhận diện và hỗ trợ bởi các kỹ thuật khai phá – phân tích dữ liệu trong các công trình học thuật gần đây. Trong bối cảnh cụ thể ở mỗi đơn vị đào tạo, các đặc điểm riêng biệt của các yếu tố khác nhau về con người, nơi chốn, lĩnh vực đào tạo,… sẽ dẫn đến các vấn đề khác nhau và dữ liệu thu thập được cũng sẽ mang những đặc điểm khác nhau. Dữ liệu này cần được khai phá – phân tích sao cho phù hợp với các đặc điểm riêng này và có thể đem lại giá trị lợi ích lớn nhất cho các hoạt động học tập - giảng dạy trong tương lai theo hướng phát triển chung của kinh tế - xã hội – khoa học - kỹ thuật. Vì vậy, việc lựa chọn và phát triển các kỹ thuật khai phá dữ liệu về giáo dục nhằm rút trích ra thông tin có thể được dùng để hỗ trợ ra quyết định là một vấn đề cần được xem xét. Ngoài ra, việc đưa các kết quả khai phá – phân tích dữ liệu vào hỗ trợ các vấn đề cụ thể của mỗi đơn vị đào tạo cũng là một thử thách trong lĩnh vực khai phá dữ liệu về giáo dục. Từ đó, mục tiêu chính của đề tài được đề xuất trong báo cáo này là phát triển hệ thống hỗ trợ ra quyết định về giáo dục nói chung; trong đó, khai phá – phân tích dữ liệu về giáo dục được tận dụng. Khi hệ thống được hoàn tất, những đóng góp được dự kiến như sau: - Tổ chức - quản lý dữ liệu sao cho dữ liệu có thể được truy xuất - xử lý hiệu quả và có thể được tận dụng trong việc khai phá – phân tích dữ liệu và sau cùng là trong việc hỗ trợ ra quyết định - Cung cấp thông tin phân tích - rút trích được từ lượng dữ liệu có được tùy theo yêu cầu/vấn đề cần được giải quyết và hỗ trợ ra quyết định - Cung cấp các tiện ích hỗ trợ ra quyết định)

  • Working Paper


  • Authors: Lê, Trung Chơn, TS.;  Co-Author: 2015 (Nghiên cứu nhằm phân tích đánh giá phương pháp tính toán thiết kế hệ thống thoát nước đang được áp dụng hiện nay và những tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống thoát nước đô thị. Những yếu tố bất định ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước được nhận dạng và phân tích. Từ đó đánh giá sự phù hợp của phương pháp tiếp cận thoát nước truyền thống hiện nay. Tiếp theo đó, nghiên cứu đề xuất phương pháp tiếp cận giải quyết thoát nước đô thị trong điều kiện BĐKH và đề xuất chiến lược quản lý phù hợp cho hệ thống thoát nước trong điều kiện BĐKH. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất một hệ thống hỗ trợ ra quyết định không gian cho thoát nước đô thị bằng các giải pháp công trình. ABSTRAC)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Tiến Lực, PGS.TS.;  Co-Author: 2015 (Trong những năm gần đây, vị thế của Việt Nam ở Đông Nam Á, đặc biệt trong Tiểu vùng sông Mekong đang lên rất cao. Việc xác định vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhóm nghiên cứu, từ góc độ chuyên môn của mình, muốn thông qua mối quan hệ với Nhật Bản, một cường quốc, có quan hệ mật thiết với khu vực để xem xét vị thế của Việt Nam trong Tiểu vùng Mekong. Trong quan hệ của Nhật Bản với Tiểu vùng sông Mekong, Nhật Bản coi trọng vị thế của Việt Nam và gần đây, khi hai nước nâng cấp quan hệ song phương lên tầm cao mới - quan hệ đối tác chiến lược, Nhật Bản coi Việt Nam như là một quốc gia trung tâm ở khu vực Tiểu vùng sông Mekong. Đây là công trình nghiên cứu mới, với cách tiếp cận mới góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu quan hệ Nhật Bản đối với khu vực và vị thế của Việt Nam trong Tiểu vùng Mekong. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là, qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống quan hệ giữa Nhật Bản Tiểu vùng Mekong từ năm 1957 đến nay xác định vị thế của Việt Nam trong Tiểu vùng sông Mekong. Công trình sẽ làm sáng tỏ những vấn đề cụ thế của nó như: Quá trình hình thành Tiểu vùng sông Mekong như là một khu vực địa-chính trị, địakinh tế; quan hệ giữa Nhật Bản và Tiểu vùng sông Mekong; Đánh giá vị thế của Việt Nam trong Tiểu vùng Mekong từ quan hệ với Nhật Bản. Kết quả nghiên cứu này cho phép chúng ta rút ra kết luận: Tiếp cận từ quan hệ giữa Nhật Bản, Việt Nam có vị trí địa-chính trị, địa- kinh tế và địa chiến lược ngày càng quan trọng ở Tiểu vùng sông Mekong. Để nâng cao hơn nữa vị thế của mình ở khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần tích cực, chủ động tăng cường quan hệ với các nước trong Tiểu vùng đồng thời thúc đẩy hơn nữa quan hệ với các cường quốc, ví như Nhật Bản. Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng như hội nhập quốc tế như hiện nay, các quốc gia đều nổ lực xác lập vị thế của mình ở khu vực và trên thế giới. Kết quả nghiên cứu vị thế của Việt Nam ở Tiểu vùng sông Mekong trong mối quan hệ giữa Nhật Bản góp phần làm sáng tỏ vai trò to lớn của Việt Nam trong việc thúc đẩy sự phát triển của một trong số những mối quan hệ đa phương quan trọng nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Thêm vào đó, nó còn góp phần thúc đẩy mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản lên một tầm cao mới.)

  • Working Paper


  • Authors: Cung, Hoàng Phi Phượng, ThS.;  Co-Author: 2015 (Ớt là loài cây gia vị có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Đây là một loài cây hoa màu quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mexico, Thái Lan… Diện tích và năng suất trồng ớt trên thế giới tăng đều qua các năm. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, cây ớt đang ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong ngành trồng trọt, diện tích trồng ớt cũng tăng nhanh. Vì vậy, nhu cầu về hạt giống ớt chất lượng cao hiện nay là rất lớn. Ngày càng nhiều công ty giống tại Việt Nam quan tâm đầu tư sản xuất hạt giống F1 thương mại. Việc sản xuất hạt giống F1 ở quy mô lớn thường gặp nhiều khó khăn do sự tự thụ phấn của cây mẹ. Hiện tượng bất dục đực tế bào chất ở ớt chính là giải pháp hiệu quả nhất cho vấn đề trên. Nhờ vào việc tránh được hoàn toàn hiện tượng tự thụ phấn ở cây mẹ, cây ớt bất dục đực tế bào chất có thể giúp nâng cao đáng kể năng suất và chất lượng hạt giống, đồng thời giúp tiết kiệm chi phí nhân công. Chính vì lí do đó, việc chọn lọc, lai tạo các dòng ớt bất dục ngày càng được quan tâm. Việc tìm ra phương pháp xác định sớm và chính xác các dòng ớt bất dục sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ lai tạo các dòng bất dục đực phục vụ cho sản xuất hạt giống ớt thương mại. Trên cơ sở đó, đề tài đã tiến hành khảo sát khả năng ứng dụng các bộ mồi nhằm xác định sớm và chính xác các dòng quan trọng trong hiện tượng bất dục đực ở ớt bằng phương pháp PCR. Kết quả khảo sát cho thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa đột biến ở đầu 3’ gen coxII với tế bào chất bất dục ở cả ba dòng ớt được khảo sát (Chỉ Thiên, Sừng Vàng, Sừng Đỏ), đồng thời cũng khẳng định được vai trò của allele trội Rf trong sự phục hồi khả năng hữu thụ. Việc kết hợp các bộ mồi coxIISCAR hoặc coxTri-M1 với RfSCAR cho phép xác định chính xác dòng bất dục đực và dòng duy trì tính bất dục ở các giống ớt được khảo sát. Kết quả thu được cho thấy tính khả thi trong việc ứng dụng các bộ primer này nhằm tăng hiệu quả của quá trình chọn tạo các dòng quan trọng ở cây ớt tại Việt Nam.)

  • Working Paper


  • Authors: Trần, Lê Bảo Hà, PGS.TS.;  Co-Author: 2015 (Regeneration of dentin tissues in the pulp space of teeth serves the ultimate goal of preserving teeth via endodontic approaches. In recent times, many studies suggested that human dentin scaffolds combined with dental stem cells was a potential strategy for the complete dentin tissue regeneration. In this study, human dental pulp stem cells (DPSCs) were isolated and cultured. Dentin specimens were prepared from human third molars and treated with ethylene diamine tetra-acetic acid and citric acid to remove the smear layer. Then, DPSCs were cultured onto human treated dentin (hTD) and implanted in mouse model for 4, 6 and 8 weeks. The resulting grafts were assessed by hematoxylin and eosin stain and immunohistochemical stains. As a result, DPSCs were supported and induced to regenerate of dentin-like tissues which expressed specific dentin markers such as dentin sialophosphoprotein and dentin matrix protein 1 by combination with hTD in vivo. Furthermore, cells existed in the newly-formed dentin-like tissues also expressed typical human mitochondria antibodies, demonstrated that new tissues originated from human. In conclusion, the obtain results extend hopefully newly-established therapy to apply in endodontics and traumatic dental hard tissues.)

  • Working Paper


  • Authors: Phạm, Gia Trân, TS.;  Co-Author: 2015 (Ngập nƣớc và nhiệt độ tăng là các vấn đề môi trƣờng đang đƣợc quan tâm tại thành phố Hồ Chí Minh. Các biến đổi môi trƣờng tự nhiên này đang gây ra các tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội thành phố, đời sống, sinh hoạt của ngƣời dân và sức khỏe của cộng đồng. Nghiên cứu này đƣợc thực hiện để nhận dạng sự liên hệ giữa tình hình bệnh tật với ngập nƣớc và nhiệt độ tăng trong cộng đồng dân cƣ. Các phát hiện nghiên cứu sẽ đóng góp các thông tin hữu ích và đề nghị cho ngành y tế dự phòng và chính sách thích ứng BĐKH của Quốc gia. Nghiên cứu đƣợc tiến hành với số mẫu là 800 hộ gia đình cƣ trú tại 6 quận huyện đại diện cho khu vực trung tâm, vùng ven và khu ngoại thành của thành phố. Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận định lƣợng và định tính để phân tích nhận thức của ngƣời dân về tình trạng ngập nƣớc và nhiệt độ tăng tại nơi cƣ trú, mối quan hệ giữa ngập nƣớc và bệnh tật, tình hình bệnh tật của hộ gia đình và hành vi ứng phó. Để giảm thiểu các nguy cơ sức khỏe gây ra do ngập nƣớc tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu đƣa ra các kiến nghị liên quan đến giảm thiểu ngập nƣớc và nhiệt độ tăng, công tác y tế dự phòng và cải thiện điều kiện sống của các cộng đồng dân cƣ nghèo.)