Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Working Paper


  • Authors: Ngô, Khánh Hiếu, TS.;  Co-Author: 2014 (Trong vài năm trở lại đây, nhu cầu về máy bay không người lái cho mục đích quân sự và dân sự ngày càng tăng cao. Trong bối cảnh đó, rất nhiều hướng nghiên cứu trong nước về máy bay không người lái đã được khởi xướng. Và để có thể thật sự làm chủ được thiết kế máy bay không người lái thì hệ thống lực đẩy, đặc biệt là hệ thống lực đẩy dùng chong chóng khí, cần phải được phân tích, xác định rõ đặc tính. Dựa trên mô hình thực nghiệm đặc tính của chong chóng khí của Trường Đại học Illinois, đề tài hướng đến xây dựng một mô hình thực nghiệm cho phép đánh giá đặc tính lực đẩy của chong chóng khí dùng cho các máy bay mô hình. Việc khảo sát thực nghiệm đặt tính lực đẩy của chong chóng khí của các thiết bị bay đề xuất trong đề tài sẽ giúp trước hết chuẩn hóa việc lựa chọn cơ cấu tạo lực đẩy của các thiết bị bay dùng chong chóng khí (cụ thể là lựa chọn được chong chóng phù hợp, từ đó lựa chọn động cơ phù hợp); sau đó là giúp xây dựng một cơ sở dữ liệu đặc tính lực đẩy của nhiều loại chong chóng khí theo các điều kiện hoạt động khác nhau của thiết bị bay, từ đó hướng đến xây dựng chương trình điều khiển lực đẩy của thiết bị bay tự động dùng cho các mục đích dân sự, mục đích nghiên cứu trong phạm vi Trường Đại học. Mô hình thực nghiệm đặc tính của chong chóng khí đề xuất còn hướng đến tự chủ trong việc khảo sát thực nghiệm đặc tính của chong chóng khí, từ đó giúp đánh giá độ tin cậy của các chương trình mô phỏng đặc tính của chong chóng khí. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được nhờ vào các cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có ở Trường Đại học Bách khoa Tp. HCM như ống khí động hở do ENSMA tài trợ ở phòng thí nghiệm Kỹ thuật Hàng không, bộ hiển thị và lưu trữ giá trị biến dạng và ứng suất của strain-gauge hay load-cell của hãng Vishay ở phòng thí nghiệm Cơ học ứng dụng. Kết quả chính thu được từ đề tài là đường biểu diễn đặc tính lực đẩy của chong chóng khí theo vận tốc thiết bị bay và theo số vòng quay của chong chóng. Các mẫu chong chóng khí thực nghiệm sẽ là các chóng chóng khí dùng cho máy bay cánh bằng dùng động cơ điện có đường kính từ 10 inches trở xuống như APC Slow-Flyer 10x4.7 APC Thin E 9x6, APC Thin E 10x7, APC Sport 9x6, APC Sport 10x6, APC Sport 10x8, Master Airscrew E 9x6, Master Airscrew GF 10x7, Master Airscrew E 10x6, Master Airscrew E 10x8… Các chong chóng này hoàn toàn có thể tìm được ở Việt nam và hiện đang sử dụng phổ biến cho có mô hình bay điều khiển từ xa.)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Kim Phi Phụng, GS.TS.;  Co-Author: 2014 (Từ 12 mẫu cây thuốc Việt Nam, bao gồm: trái Sa kê, Artocarpus altilis; cây An điền hoa nhỏ, Hedyotis tenelliflora; cây An điền nhám, Hedyotis rudis; cây Xuân hoa đỏ, Pseuderanthemumcarruthersii; cây Xuân hoa mạng, Pseuderanthemum reticulatum; câyBông cẩm, Pseuderanthemum andersonii; cây Sơn cúc Ba Thùy, Wedelia trilobata;cây Sơn cúc hai hoa, Wedelia biflora;lá cây Neem, Azadirachta indica; hạt và vỏ hạt cây Tô mộc, Caesalpinia sappan; vỏ và trái cây Còng mù u, Calophyllum thorelii; lá cây Còng núi, Calophyllum dryobalanoides; đã cô lập và xác định được cấu trúc của 155 hợp chất, trong đó có 38 hợp chất mới, lần đầu tiên được công bố trên thế giới. Từ hai acid chiếm hàm lượng lớn, acid ursolic và acid betulinic, đã điều chế được 8 dẫn xuất của acid betulinic và 17 dẫn xuất của acid ursolic. Tiến hành nghiên cứu các hoạt tính sinh học của các hợp chất cho thấy có 2 hợp chất có khả năng ức chế gốc tự do DPPH với giá trị IC50< 100M từ trái Sa kê; 3 hợp chất có khả năng ức chế enzym tyrosinase với giá trị IC50< 100M từ vỏ hạt Tô mộc; 16 hợp chất có khả năng ức chế enzym α-glucosidase với giá trị IC50< 100M từ lá cây Neem; 20 hợp chất có khả năng ức chế enzym acetylcholinesterase dưới 50% ở nồng độ 100g/mL từ cây Xuân hoa đỏ; có 5 hợp chất có khả năng ức chế MCF-7 và một hợp chất ức chế HeLa dưới 81% ở nồng độ 100g/mL từ cây Xuân hoa đỏ; 4 hợp chất có hoạt tính trung bình trên các dòng tế bào HeLa, MCF-7 và NCI-H460 với giá trị IC50< 100g/mL từ cây Còng mù u; 3 hợp chất có hoạt tính mạnh trên dòng tế bàoPANC-1 với giá trị IC50< 100M từ hạt Tô mộc; 1 hợp chất dẫn xuất của acid ursolic có hoạt tính mạnh hơn acid ursolic trên các dòng tế bào HeLa, MCF-7, HEP G2 và NCI-H460. Từ các kết quả trên, đề tài đã đăng được 7 bài báo quốc tế và 18 bài báo trong nước; tham gia 3 hội nghị quốc tế và 6 hội nghị trong nước; đào tạo 10thạc sĩ và 3tiến sĩ.)

  • Working Paper


  • Authors: Lê, Hoàng Thái, PGS.TS.;  Co-Author: 2014 (Đề tài đã đề xuất được một số bộ mô tả đặc trưng hiệu quả trong nhận dạng mặt người nhìn thẳng mất mát thông tin và phân lớp biểu cảm khuôn mặt, đồng thời cũng đề xuất mô hình tổng quát nhận dạng mặt người nhìn nghiêng. Các kết quả nghiên cứu đạt được trong đề tài chỉ ra được tính ưu việt của mô hình đề xuất so với các hệ thống nhận dạng mặt người nhìn thẳng mất mát thông tin hiện có. Cụ thể các nội dung đã đạt được bao gồm: - Khảo sát các phương pháp rút trích đặc trưng đã từng được thực hiện trên các vùng đặc trưng của khuôn mặt như 2DPCA. Đề xuất bộ mô tả đặc trưng B2D- FPCA để phân lớp cảm xúc của khuôn mặt. Đề xuất bộ mô tả đặc trưng hướng cục bộ LOFESS sử dụng dữ liệu huấn luyện nhỏ cho biểu diễn mặt người bị mất mát thông tin. - Phát triển phương pháp mẫu nhị phân cục bộ (LBP) và các biến thể của nó cho việc xây dựng các bộ miêu tả cấu trúc đặc trưng cục bộ của khuôn mặt trong bài toán phân lớp ảnh đối tượng phức tạp (ảnh chụp mặt người trong một số điều kiện khó: biến đổi ánh sáng, biến đổi góc nhìn). - So sánh đối chiếu với các mô hình, ứng dụng đã có thông qua thực nghiệm để chứng minh tính ưu việt của mô hình đề xuất trên các cơ sở dữ liệu ảnh chuẩn có độ phức tạp cao như FERET, AR, Cohn-Kanade, PAIN và JAFFE. - Xây dựng một ứng dụng Android thời gian thực cho việc chứng thực khuôn mặt. Cuối cùng, các kết quả này được minh chứng bởi 4 bài báo khoa học và đào tạo được 1 Thạc sĩ và 2 Cử nhân chuyên ngành Khoa học máy tính.)

  • Working Paper


  • Authors: Lê, Mỹ Loan Phụng, TS.;  Co-Author: 2014 (Pin sạc Li-ion là thiết bị lưu trữ điện có nhiều ưu điểm nổi bật như mật độ năng lượng cao, nhẹ, có vùng thế hoạt động cao và số chu kỳ phóng-sạc cao. Tuy nhiên, vật liệu điện cực dương trong pin Li-ion thương mại hiện nay là LiCoO2 (120 mAh/g) vẫn tồn tại nhiều nhược điểm như giá thành cao, độc hại với môi trường do chứa kim loại Cobalt. Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu tổng hợp và đánh giá tính chất điện hóa của các vật liệu LiMn2O4 và LiMxMn2-xO4 (M = Ni, Co…). Đây là thế hệ vật liệu điện cực dương mới với nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với vật liệu LiCoO2 như giá thành rẻ, dung lượng cao (140 mAh/g), khoảng thế hoạt động rộng 3,5-5,0 V (so với LiCoO2, 2,0-3,7 V), không độc hại và thân thiện với môi trường. Ngoài ra, chúng tôi nghiên cứu tổng hợp hệ composite MnO2/C ứng dụng làm vật liệu điện cực trong tụ điện điện hóa.)

  • Working Paper


  • Authors: Lê, Trung Quân,TS.;  Co-Author: 2014 (Đề tài này tập trung vào việc nghiên cứu, thiết kế và hiện thực giao thức mạng, và ứng dụng nhà thông minh, chạy trên nền tảng các hệ điều hành mã nguồn mở, ví dụ như Linux, TinyOS, ContikiOS. Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra được các thiết bị đầu cuối, ví dụ như các thiết bị cảm biến hoạt động ở chế độ nguồn tiêu thụ thấp, hoặc thiết bị định tuyến không dây ad-hoc, qua đó làm chủ công nghệ để có thể triển khai các ứng dụng nhà thông minh tại Việt Nam với giá thành hợp lý. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập trung vào nghiên cứu phát triển ứng dụng nhà thông minh dựa vào việc: i) Sử dụng các cảm biến (sensors) để thu thập dữ liệu, ii) Sử dụng công nghệ wifi 802.11 hoạt động ở chế độ nguồn tiêu thụ thấp (low-power) trong truyền nhận dữ liệu, thay vì công nghệ 802.15.4 truyền thống, và iii) Xây dựng mô hình quản lý ngữ cảnh thông minh (intelligent context management) phục vụ việc tái cấu hình (re-configuration) để tối ưu việc sử dụng tài nguyên. Một cách cụ thể hơn, chúng tôi tập trung vào các nội dung sau: i) tái cấu hình (Reconfiguration) trong Wireless Embedded Internet (WEI), ii) quản lý ngữ cảnh thông minh (Intelligent Context Management) trong WEI, iii) công nghệ wifi 802.11 low-power: phân tích, thiết kế, và iv) hiện thực – đánh giá (implementation & testing). Kết quả của đề tài này cũng sẽ được dự định sử dụng trong các dự án hợp tác nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi với nhóm LIM-Lab tại Trường Khoa học Thông tin (School of Information Science), Viện Khoa học và Công Nghệ Tiên Tiến Nhật Bản (JAIST/Japan).)

  • Working Paper


  • Authors: Hoàng, Xuân Tùng, TS.; Chế, Đông Biên, ThS.;  Co-Author: 2014 (Hiện nay ở Việt Nam, đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Việc chủ động chế tạo ra các sản phẩm (mang tính sinh học) có khả năng xử lý chất dinh dưỡng nước thải dân dụng là một việc vô cùng cần thiết. Xử lý chất thải luôn luôn là vấn đề cấp thiết để có được sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp quá trình xử lý chất thải này lại đem đến ô nhiễm khác. Quá trình xử lý chất thải không đễ lại cặn bã nào khác là 1 quá trình mà các nhà khoa học tìm kiếm. Trong thời gian gần đây, phương pháp khử Nitơ trên cơ sở sử dụng nguồn carbon là polymer phân hủy sinh học là hướng được nhiều tác giả quan tâm. Có 2 loại polymer thường được sử dụng cho mục đích này: polymer tự nhiên (cellulose) và polymer phân hủy sinh học tổng hợp (PCL, PHA). Polymer tự nhiên có ưu điểm là rẻ tiền nhưng lại làm tăng DOC của hệ xử lý. Polymer tổng hợp cho hiệu quả tốt nhưng giá thành lại cao. Chính vì thế vấn đề giá thành của pp xử lý Nito bằng polymer tổng hợp có thể được khắc phục bằng việc phối trộn các polymer với tinh bột. Đề tài tiến hành nghiên cứu khảo sát tìm ra quy trình chế tạo giá thể vi sinh bám bằng cách trộn hợp tinh bột sắn và PHB. Yêu cầu của giá thể là PHB phân tán đều trong hạt giá thể và tinh bột phải được nhựa hóa hoàn toàn. Tinh bột và PHB là polymer sinh học đang được quan tâm vì khả năng phân hủy tự nhiên. Nghiên cứu đồng thời tiến hành khảo sát sơ bộ hiệu quả xử lý nitơ của giá thể. Giá thể thu được vừa đáp ứng được mục đích làm vật thể bám cho vi sinh, vừa có thể phân hủy hoàn toàn, không cần thu hồi sau khi xử lý nước thải. Ứng dụng tinh bột làm chất mang giá thể là một biện pháp đầy hứa hẹn, đáp ứng nhu cầu xử lý nguồn nước và đặc biệt nếu nó lại đi từ nguồn nguyên liệu nông nghiệp dồi dào và rẻ tiền.)

  • Working Paper


  • Authors: Phan, Thị Thanh Bình, PGS.TS.;  Co-Author: 2014 (Với tên gọi “Áp dụng khai phá dữ liệu vào phân tích tiêu thụ điện”, đề tài tập trung nghiên cứu áp dụng Wavelet và Fuzzy logic vào dự báo phụ tải, lý thuyết phân nhóm để khảo sát hành vi dùng điện của khách hàng, mô hình đáp ứng tiêu thụ điện theo giá điện. Trong phần dự báo đồ thị phụ tải, đề tài đề xuất mô hình Wavelet-Fuzzy khi coi tập các đồ thị phụ tải được như là chuỗi thời gian. Chuỗi này sẽ được tiến hành phân tích t-test, sau đó được phân tích MOWDT. Từ đây các thành phần tỉ lệ và xu thế sẽ được dự báo qua việc tìm các luật mờ theo giải thuật trừ nhóm. Chìa khóa ở đây là xây dựng các ma trận inputoutput. Ngoài ra, đề tài đề xuất xử lý chuỗi đồ thị thành 24 chuỗi thời gian hay hai chuỗi thời gian (ngày nghỉ, ngày làm việc) tùy theo đặc tính của tập đồ thị phụ tải ngày. Để có thể so sánh kết quả, đề tài xây dựng các mô hình dự báo sau: Wavelet, Wavelet-Neural, tự tương quan. Mô hình đề xuất khi áp dụng cho dự báo đồ thị thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả khả quan nhất. Trong phần dự báo phụ tải theo mô hình tương quan, các mô hình dựa trên FuzzyWavelet và Fuzzy logic đã được xây dựng. Để kiểm định xem mô hình có đáp ứng tốt khi các mô hình dự báo là tường minh, một loạt các dạng hàm tương quan truyền thống trong dự báo phụ tải điện đã được khảo sát. Với các số liệu phụ tải không có mối tương quan tường minh (ví dụ cho thành phố Hồ Chí Minh), các mô hình đề xuất đều cho kết quả tốtso với mô hình của phần mềm có sẵn. Dự báo chuỗi thời gian điện năng nhất là điện năng năm có đặc thù là chuỗi tăng với một số điện lực. Để áp dụng Wavelet, khảo sát cho thấy cần thiết phải biến đổi chuỗi ban đầu về chuỗi các tỉ số. Với các dự báo ngày và tuần, cần dựa trên t-test để xây ma trận inputoutput. Phân nhóm đồ thị ngày cho một đối tượng được triển khai theo hai hướng: khi tập đồ thị năm được đưa vào phân nhóm và khi tập đồ thị tháng được đưa vào phân nhóm. Trường hợp đầu tiên được khảo sát theo 3 mô hình, trong đó mô hình SOM&K Means cải biên do đề tài đề tài xuất khi thử trên các tập mẫu nổi tiếng và cho thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả tốt. Với trường hợp thứ hai, mô hình của đề tài dựa trên giải thuật Pulsa cải tiến với lưu ý tới số lượng tập đồ thị ít và các phần tử trong cùng nhóm phải có thứ tự liền kề. Phân nhóm các đối tượng được đề tài khảo sát dựa không chỉ dựa trên yếu tố là hình dạng đồ thị mà còn dựa trên đồ thị hệ số góc. Trong việc phân nhóm theo đồ thị và sự tham gia tải đỉnh của hệ thống, đề tài đã đề xuất được các mô hình dựa trên các cách tính khoảng cách giữa hai đối tượng phân nhóm. Mô hình đáp ứng giá-tiêu thụ được khảo sát theo hai hướng: mô hình giải tích khi tìm mối quan hệ tường minh giữa giá và tiêu thụ điện qua hệ số đàn hồi; mô hình dựa trên mạng Neural khi không thể tìm được mối quan hệ giải tích giữa giá và sự dùng điện của khách hàng.)

  • Working Paper


  • Authors: Phạm, Thị Ngọc Thu, TS.;  Co-Author: 2014 (In general, villages have always been a fascinating issue to researchers with a diverse of potential topics. However, from historical perspective, we are interested in a topic on connections between villages and a whole nation as well as village regulations, and the link between “village rules” and “nation laws”. This issue is also appealing to many historians and law researchers, but there has not been many comprehensive and systematic conclusions on mutual impacts between “village rules” and “nation laws”; nor has there any clear answer to a question of how the Vietnamese feudal state had handled those impacts. In Vietnamese today’s society, while everybody has to live and work under the Constitution and laws, are village regulations essential to manage village? and if they are, how should we establish this kind of regulations? Recognizing the important role of conventions and local laws in the history of the formation and development of Vietnamese villages, on the basis of inheriting the results of scientific research on conventions and local laws of predecessors, we would choose the topic on: the relationship between the legal conventions and local laws in the North of delta villages in the Nguyen Dynasty (1802 - 1945) to study, in order to raise awareness about this important issues, from which we would like to draw conclusions about experience in building and handling the relationship between "nation" and "village rules", helping to construct policies of new rural regulations, which is one of the urgent need in the constructing and developing of our country today. In the feudal era of Vietnam, particularly in the Nguyen dynasty, village conventions were an effective tool to manage village communities, and they continues playing their roles in nowadays villages, which is an undeniable fact. Therefore, we need to conduct research on how village conventions were made and introduced .)

  • Working Paper


  • Authors: Lê, Bá Khánh, TS.;  Co-Author: 2014 (Tự động hóa giúp năng suất lao động được nâng cao, chất lượng sản phẩm ổn định và tốt hơn. Các công ty trong lĩnh vực tư vấn thiết kế công trình giao thông đều rất chú trọng thực hiện tự động hóa công tác thiết kế. Trong lĩnh vực phân tích kết cấu có rất nhiều phần mềm nổi tiếng như: MIDAS/Civil, RM, SAP, ANSYS, LUSAS, ABAQUS… Ưu điểm của những phần mềm trên: giải quyết được rất nhiều bài toán phức tạp về cơ học, truyền nhiệt, v.v … Nhược điểm của những phần mềm trên: Khó hiểu đối với sinh viên, không đưa ra những trợ giúp cần thiết trong quá trình tính toán – thiết kế, không có khả năng chỉnh sửa, phát triển code của phần mềm, chi phí mua phần mềm cao, sinh viên và học viên không tận dụng hết chức năng của phần mềm. Từ thực tế giảng dạy và nhu cầu của xã hội về tự động hoá, nhóm nghiên cứu của BM Cầu – Đường đã quyết định “XÂY DỰNG PHẦN MỀM TỰ ĐỘNG HOÁ TÍNH TOÁN THIẾT KẾ KẾT CẤU DẦM HỘP BÊ TÔNG CỐT THÉP, NHỊP LIÊN TỤC ĐỂ PHỤC VỤ ĐÀO TẠO”. Mã nguồn và phần mềm của đề tài là nền tảng cơ sở cho thầy cô, học viên phát triển tiếp các nghiên cứu về tự động hóa tính toán kết cấu cầu. Các học viên cao học có thể viết tiếp các modul khác cho bộ phần mềm này. Sản phẩm của đề tài này là một học liệu tốt để phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập chuyên đề về “Tự động hóa thiết kế cầu” ở bậc sau đại học và môn “Tin học ứng dụng cầu đường” ở bậc đại học.)