Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Technical Report


  • Authors: Phan, Kim Ngọc, ThS.;  Co-Author: 2013 (Bệnh mạch vành là một loại bệnh tim thường gặp nhất, nguyên nhân do động mạch vành xơ vữa làm tim bị thiếu máu cục bộ, gây suy tim và đột quỵ có thể dẫn đến tử vong ở bệnh nhân. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có khoảng 17 triệu người trên hành tinh chết vì bệnh tim mạch, con số này được dự đoán sẽ tăng lên 25 triệu vào năm 2020. Tại Việt Nam, theo thống kê của Viện Tim mạch Việt Nam, hàng năm có đến hàng triệu người bị bệnh mạch vành và khoảng 10% trong số bệnh nhân này tử vong do nhồi máu cơ tim. Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị bệnh mạch vành như điều chỉnh lối sống, dùng thuốc, can thiệp động mạch vành qua da hay mổ bắc cầu nối động mạch vành. Các phương pháp điều trị này gây xâm lấn và buộc bệnh nhân phải sử dụng thuốc suốt đời. Với sự phát triển của khoa học hiện nay, đặc biệt là việc phát hiện ra tế bào gốc, phương pháp mới sử dụng tế bào gốc để điều trị bệnh mạch vành được nghĩ đến và đã có một số nghiên cứu ứng dụng tế bào trong điều trị bệnh mạch vành. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có kết quả nghiên cứu nào về việc đánh giá, theo dõi sự tồn tại của tế bào gốc khi ghép hay vai trò của tế bào gốc trong cấy ghép. Do đó, việc tiến hành đề tài “Nghiên cứu điều trị thực nghiệm bệnh mạch vành (bệnh tim thiếu máu cục bộ) bằng cấy ghép tế bào gốc” là phù hợp với xu thế Thế giới cũng như định hướng của nước ta trong việc điều trị bệnh mạch vành. Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu PTN Tế bào Gốc đã nghiên cứu xây dựng mô hình chuột suy tim, chuẩn bị nguồn tế bào và tiến hành cấy ghép tế bào lên mô hình chuột nhằm đánh giá tác động của liệu pháp cấy ghép tế bào trong việc điều trị bệnh suy tim. Chúng tôi đã đạt được một số kết quả như sau: - Tạo và đánh giá mô hình chuột tổn thương cơ tim do thiếu máu cục bộ - Thu nhận và tăng sinh tế bào tiền thân nội mô và tế bào gốc trung mô từ máu cuống rốn người - Biệt hóa tế bào gốc trung mô máu cuống rốn thành tế bào tiền thân cơ tim - Cấy ghép tế bào tiền thân nội mô, tế bào tiền thân cơ tim và cấy ghép kết hợp cả hai loại tế bào này lên mô hình chuột thiếu máu cục bộ cơ tim do tắt nghẽn mạch vành.)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Thanh Nam, GS.TS.;  Co-Author: 2013 (Trong cuộc chiến cạnh tranh mang tính toàn cầu, việc tạo ra những sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng trong một khoảng thời gian ngắn và tiết kiệm đã thúc đẩy các nhà sản xuất tìm kiếm một kỹ thuật mới để tăng tốc độ sản xuất mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế. Vì lý do đó mà RP ( rapid prototyping ) – Kỹ thuật tạo mẫu nhanh – đã ra đời để đáp ứng khả năng tạo ra mẫu thiết kế và cải tiến mẫu một cách nhanh hơn , chính xác hơn so với cách sản xuất thông thường. RP là một kỹ thuật tạo mẫu theo nguyên lý cắt lớp : mẫu thiết kế được chia thành từng lớp mỏng và được mã hoá thành file dữ liệu nhờ hệ thống máy tính. Sau đó file này được đưa vào bộ nhớ của máy tạo mẫu chuyên dùng để tạo mẫu. RP là một kỹ thuật tạo mẫu theo nguyên lý cắt lớp : mẫu thiết kế được chia thành từng lớp mỏng và được mã hoá thành file dữ liệu nhờ hệ thống máy tính. Sau đó file này được đưa vào bộ nhớ của máy tạo mẫu chuyên dùng để tạo mẫu. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay có nhiều công nghệ tạo mẫu nhanh khác nhau như : SLA, SGS, SLS, LOM, FDM… Trong hầu hết các công nghệ kể trên vật liệu chủ yếu là nhựa nhiệt dẻo đặc biệt, sau quá trình gia công đòi hỏi quá trình làm sạch chuyên dụng, nên thiết bị khá đắt tiền. Trong khi đó công nghệ LOM vật liệu là giấy và không đó hỏi quá trình làm sạch đặc biệt. Với lý do đó mà phòng thí nghiệm “ Điều khiển số và kỹ thuật hệ thống “ được giao đề tài “ Nghiên cứu thiết kế và chế tạo hệ thống tạo mẫu nhanh LOM”. Trong quá trình thực hiện đề tài nhóm nghiên cứu đã thiết kế và chế tạo máy tạo mẫu nhanh theo công nghệ LOM và tiến hành thực nghiệm để đánh giá khả năng công nghệ của máy. Kết quả được thể hiện qua các nội dung sau:  Nội dung 1: Nghiên cứu các Patents về LOM  Nội dung 2: Phân tích lựa chọn các phương án thiết kế máy LOM  Nội dung 3: Xác định các đặc tính kỹ thuật cuối cùng của máy tạo mẫu nhanh LOM  Nội dung 4: Xác định cấu trúc tổng thể của máy LOM 3  Nội dung 5: Tính toán thiết kế các cụm  Nội dung 6: Nghiên cứu cấu trúc dữ liệu STL  Nội dung 7: Xây dựng phần mềm nhận dạng file STL  Nội dung 8: Lựa chọn các bộ phận điều khiển máy  Nội dung 9: Chế tạo và lắp ráp.  Nội dung 10: Chạy thử nghiệm và hiệu chỉnh)

  • Working Paper


  • Authors: Nguyễn, Thanh Hải, TS.;  Co-Author: 2013 (Những công nghệ trợ giúp đã được cài đặt trong xe lăn di động để cung cấp khả năng tiếp cận thêm cho người khuyết tật nặng và để tăng cường hoạt động độc lập của họ trong cuộc sống hàng ngày. Cảm biến siêu âm và tia laser đã vừa được sử dụng để dò tìm vật thể hoặc để xây dựng map lưới hai chiều (2D) cho tránh va chạm. Những đóng góp chính của dự án là khai thác thông tin ảnh 3D từ hệ thống camera nổi và sau đó biến đổi nó thành ảnh hai chiều (2D). Ngoài ra, lệnh nháy mắt dùng điện não EEG được thiết kế cho người sử dụng điều khiển. Do đó, một chiến lược xe lăn điều khiể chia được đề xuất trong xe lăn thông minh. Để cung cấp thông tin ba chiều (3D) cho phát hiện khoảng trống và những vật thể, hệ thống camera lập thể “Bumblebee” được gắn trên một chiếc xe lăn điện. Vậy thì, một thuật toán tổng của sự khác biệt tuyệt đối (SAD) được sử dụng để xây dựng map sai lệch tối ưu. Dựa vào map sai lệch này, map điểm 3D và map khoảng cách 2D được tạo ra cho mục đích điều khiển xe lăn tự động. Để áp dụng các cảm biến điện não EEG trong điều khiển chia, phương trình chuyển động cho việc đi tới-lui hoặc quẹ trái-phải được tính toán dựa vào chớp mắt-mở mắt hay liếc mắt trái-phải. Hơn nữa, vấn đề speed và steering được thiết kế để người sử dụng xe lăn có thể điều khiển xe dễ dàng hơn. Một chiến lược điều khiể xe lăn bán tự động được kết hợp giữa người sử dụng điều khiển điện não EEG và mode điều khiển tự động tránh vật thể. Trong mode tự động tránh vật thể, một khoảng trống thay đổi do vật thể di chuyển phía trước xe lăn có thể được phát hiện dựa vào đoạn từ vật thể đến camera. Những lệnh của người sử dụng bằng điện não có thể không chắc chắn. Nó có nghĩa là người sử dụng không được an toàn khi va chạm vào vật thể. Do đó, một khoảng cách an toàn giữa camera và xe lăn được cài đặt trước cho an toàn của người sử dụng trong môi trường động. Cụ thể, suốt quá trình di chuyển, khoảng cách giữa vật thể và xe luôn được camera dò tìm để tránh va chạm nếu qua gần. Cuối cùng, kết quả thực nghiệm minh chứng hiệu quả của phương pháp đề xuất.)

  • Working Paper


  • Authors: Lê, Trung Quân,TS.; Hà, Sơn Hải.; Nguyễn, Minh Sơn, TS.;  Co-Author: 2013 (Đề tài này tập trung vào việc xây dựng thiết bị định tuyến không dây thực sử dụng công nghệ di động ad-hoc, được cấu thành từ các máy tính để bàn PC hay máy tính xách tay, có gắn card mạng không dây, và chạy trên nền tảng hệ điều hành mã nguồn mở Linux. Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra được thiết bị định tuyến không dây ad-hoc, làm chủ công nghệ để có thể triển khai các ứng dụng ad-hoc tại Việt Nam với giá thành hợp lý. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập trung vào 03 (ba) thành phần cơ bản nhất của thiết bị định tuyến: i) các giao thức tìm đường trong mạng ad-hoc và các phiên bản hiện thực trong Linux, ii) cơ chế cập nhật bảng tìm đường và chuyển tiếp gói tin trong nhân (kernel) của hệ điều hành Linux, và iii) trình điều khiển thiết bị cho card mạng không dây. Một cách cụ thể hơn, chúng tôi tập trung phân tích mã nguồn mở trên nền Linux của các phiên bản hiện thực các giao thức tìm đường aodv-uu (trình nền aodvd), olsr-unik (trình nền olsrd), và trình điều khiển thiết bị ath5k cho card mạng không dây wlan sử dụng atheros chipset, để trình bày cụ thể vấn đề tích hợp các giao thức tìm đường, tích hợp trình điều khiển thiết bị vào nhân hệ điều hành Linux, cũng như phân tích các dòng gởi (transmission path), dòng nhận (reception path), và chuyển tiếp (forwarding) gói tin qua thiết bị định tuyến. Các cấu hình mạng thực sử dụng thiết bị định tuyến phát triển bởi chúng tôi đã được sử dụng để kiểm tra kết nối multihop trong mạng ad-hoc, cũng như xác thực tính đúng đắn trong việc phân tích mã nguồn của chúng tôi. Kết quả của đề tài này cũng sẽ được sử dụng trong dự án tiếp theo của chúng tôi: “Nghiên cứu khả năng tích hợp mạng di động ad-hoc vào Internet“. Đây là đề tài đã được Hội đồng xét duyệt của ĐHQG-HCM thông qua, và dự kiến được thực hiện trong thời gian 24 tháng (bắt đầu trong năm 2014). Về kết quả, đề tài này đã đạt được hơn 100% các kết quả đã đăng ký. Cụ thể, về công bố khoa học đã có 03 (ba) bài báo trong Hội nghị quốc tế được xuất bản trong đề tài này (đăng ký 02 bài), về đào tạo mặc dù không đăng ký nhưng chúng tôi đã hướng dẫn 03 sinh viên Đại học bảo vệ thành công Luận Văn Tốt Nghiệp trong năm 2013, và 01 sinh viên Cao học chuẩn bị bảo vệ Luận Văn Tốt Nghiệp với nội dung liên quan đến đề tài.)

  • Đề tài nghiên cứu Khoa học (Research Papers)


  • Authors: Tô, Thị Hiền, TS.;  Co-Author: 2013 (Đề tài nghiên cứu xây dựng quy trình xác định Radon trong nhà và ứng dụng vào việc xác định nồng độ Radon ở một số kiểu nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp thụ động đầu dò vết CR-39. Nguyên tắc của phép đo radon: detector CR-39 có khả năng lưu lại vết khắc khi các bức xạ alpha do radon phát ra bắn phá vào bề mặt CR-39, các vết khắc có kích thước vô cùng nhỏ trên bề mặt CR-39. Các vết này sẽ được khắc hiện bằng hóa chất để có kích thước lớn hơn và sau đó vết khắc được đếm bằng kính hiển vi với độ phóng đại cao. Nồng độ radon được tính từ các vết này. Nghiên cứu đã chế tạo holder chứa CR-39 bằng nhựa polypropylene có chiều cao 7 cm, đường kính đáy lớn là 5 cm, đường kính đáy nhỏ là là 4.8 cm. Giấy lọc được gắn ở đáy nhỏ của holder để giảm ảnh hưởng của bụi. Dựa vào chất chuẩn radium của NIST (Mỹ) để khảo sát các yếu tố ảnh hưởng trong quy trình xác định radon như nồng độ hóa chất khắc vết, thời gian ngâm CR-39 trong NaOH, và hệ số hiệu chuẩn nồng độ radon từ số vết khắc đã được thiết lập từ sự phơi nhiễm radon trong buồng chuẩn. Kết quả khảo sát cho thấy: ở nồng độ NaOH 6M và thời gian ngâm 24 giờ thì vết khắc hiện rõ và đầy đủ số lượng nhất. Giá trị hệ số hiệu chuẩn K trung bình thu được là 4.533 ± 0.218 [(Bq.m-3.ngày)/(vết/tấm CR-39)]. Công thức tính toán nồng độ radon trong nhà là C = 4.533 × với x là mật độ vết trên detector CR-39. Nồng độ radon tại 6 vị trí đặt mẫu lặp dao động từ 11.93 đến 33.8 Bq/m3. Giá trị RPD của 6 mẫu lặp đều nhỏ hơn 25% (mức kiểm soát) nên có thể thấy được sự sai khác trong kết quả đo của các mẫu lặp là không lớn. Đầu dò CR-39 cũng đã được áp dụng để xác định Radon trong một số loại nhà ở TPHCM: nhà dân, văn phòng, trường đại học. Việc sử dụng detector CR-39 là phương pháp đơn giản và dễ thực hiện để xác định nồng độ radon trong nhà ở Việt Nam.)

  • Working Paper


  • Authors: Đặng, Ngọc Minh, TS.;  Co-Author: 2013 (Báo cáo này trình bày các nội dung nghiên cứu về rủi ro thực thi lệnh và đưa ra lời giải của bài toán thực thi lệnh tối ưu. Chúng tôi giới thiệu hai loại rủi ro: rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản và tập trung vào việc định lượng hóa yếu tố rủi ro thứ hai. Mô hình dùng các đại lượng quan sát được trên thị trường như độ dao động giá, chênh lệch giá chào bán/chào mua, và cho phép liên hệ giữa độ thay đổi giá và khối lượng giao dịch trong một khoảng thời gian. Khi sử dụng dữ liệu trong ngày của thị trường Việt Nam từ 2010 – 2012, chúng tôi cũng nhận thấy các đại lượng thị trường này có dạng chữ U ngược: giao dịch nhiều ở giữa phiên và thưa hơn tại đầu và cuối phiên. Sau khi giới thiệu mô hình của bài toán giao dịch tối ưu, chúng tôi vận dụng phương pháp tính toán biến phân để giải bài toán này tối ưu với các biểu thức định lượng hóa xây dựng được. Lời giải được cho dưới dạng nghiệm của một hệ thống hồi qui, chúng tôi đề nghị một phương pháp số để tìm ra lời giải. Kết quả thu được cho phép quản lý rủi ro của một danh mục đầu tư và cho phép đưa ra chiến thuật giao dịch tối ưu nhất.)

  • Đề tài nghiên cứu Khoa học (Research Papers)


  • Authors: Đinh, Ngoc Thạch PGS.TS;  Co-Author: 2013 (Triết học phương Tây hiện đại (hiểu theo nghĩa ngoài mácxít) là sự kế thừa có phê phán và sự phát triển tư tưởng phương Tây trong điều kiện mới, theo tinh thần mới, tinh thần “phi cổ điển”, rà soát lại những vấn đề truyền thống, bắt đầu từ Hy Lạp cổ đại. Quá trình này diễn ra cùng với xu thế phi cổ điển hoá trong văn hoá châu Âu, thông qua văn chương, nghệ thuật, âm nhạc và các hoạt động sáng tạo khác, phản ánh sự tái bố trí lực lượng chính trị – xã hội tại chấu Âu, được nhen nhóm ngay từ thời Phục hưng (thế kỷ XIV – XVI), được tiếp sức bởi các cuộc cách mạng tư sản và sự ra đời nhà nước kiểu mới tại một số nước Tây Âu, thay thế chế độ quân chủ phong kiến ngự trị hàng ngàn năm.)

  • Đề tài nghiên cứu Khoa học (Research Papers)


  • Authors: Nguyễn, Thanh Trọng ThS.;  Co-Author: 2013 (Nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết kinh tế học về cạnh tranh và độc quyền để lý giải sự cần thiết phải thúc đẩy cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh; sử dụng các chỉ số đo lường mức độ tập trung kinh tế (chỉ số CR, HHI) để phân tích, đánh giá sức mạnh thị trường của doanh nghiệp và cấu trúc thị trường xăng dầu ở Việt Nam hiện nay; đồng thời phân tích các nguyên nhân dẫn đến độc quyền, khả năng thúc đẩy cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh xăng dầu dựa trên mô hình 5 nhân tố quyết định cạnh tranh ngành của Michacl E. Porter (Five Forces Model). Kết quả thu thập số liệu và tính toán của nhóm tác giả đã cho thấy thị trường xăng dầu ở Việt Nam có cấu trúc thị trường độc quyền nhóm (chỉ số CR3 là 82,4%; chỉ số HHI là 2901,5) và bị chi phối bởi Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam – Petrolimex (chỉ số CR1 là 50%). Đồng thời, cơ chế và chính sách quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu đến nay vẫn còn nhiều bất cập, chưa thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong kinh doanh. Kết quả phân tích các nhân tố quyết định cạnh tranh đối với ngành xăng dầu cho thấy tồn tại nhiều rào cản hạn chế khả năng mở ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường. Trong đó, rào cản về chính sách, rào cản kinh tế và rào cản kỹ thuật là những rào cản rất lớn cho việc gia nhập ngành của các doanh nghiệp tiềm năng. Nghiên cứu này cũng đề xuất những định hướng và giải pháp để phát triển thị trường xăng dầu có tính cạnh tranh. Trong đó, các giải pháp chính gồm: cơ cấu lại các hệ thống các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh xăng dầu; gỡ bỏ các hàng rào gia nhập ngành, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh xăng dầu từ khâu hạ nguồn; cải cách các chính sách của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu; phát triển nguồn cung từ trong nước; hoàn thiện hành lang pháp lý về cạnh tranh và chống độc quyền)

  • Đề tài nghiên cứu Khoa học (Research Papers)


  • Authors: Nguyễn, Quang TS.;  Co-Author: 2013 (Trong đề tài này chúng tôi đã triển khai phương pháp cùng tương quan (co-integration) vào ứng dụng xây dựng danh mục chỉ số chứng khoán. Chúng tôi đã áp dụng phương pháp trên cho thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là mô phỏng chỉ số VN-Index từ năm 2009-2013 bằng việc đầu tư tối ưu vào các chứng khoán niêm yết trên sàn giao dịch. Phương pháp cùng tương quan có lợi điểm là xác định sai số giữa danh mục mô phỏng và chỉ số sao cho nó có tính ổn định (stationary) và luôn có mức độ biến động trong phạm vi cho phép. Nhờ đó, danh mục được xây dựng mô phỏng tốt chỉ số, có tính ổn định cao và do vậy không đòi hỏi phải thay đổi cấu thành của danh mục thường xuyên, dẫn đến giảm thiểu chi phí giao dịch. Ngoài ra, phương pháp cũng cho phép xác định số cổ phiếu tối thiểu là 15, tần số cập nhật danh mục tối ưu là 3 tháng. Phương pháp cũng tương thích với các phương pháp lựa chọn cổ phiếu khác, ví dụ như dùng correlation. Tuy nhiên, việc lựa chọn cổ phiếu ban đầu có tính quan trọng và cần được cải thiện trong các nghiên cứu tiếp theo, cũng như việc xác định rủi ro thanh khoản cho các tài khoản lớn cần kết hợp với các nghiên cứu về tác động thị trường khác. Cuối cùng, nhóm đề tài cho rằng kết quả trên đây có ý nghĩa thực tế và có khả năng triển khai trong thị trường chứng khoán hiện nay. Chúng tôi tiếp tục hoàn thiện nghiên cứu và tìm khác liên kết với các đối tác tài chính khác để chuyển giao và ứng dụng trong thị trường.)