Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Thesis


  • Authors: Trần, Thế Phi.;  Advisor: Nguyễn, Văn Huệ; Nguyễn, Thị Hai;  Co-Author: 2016 (Luận án nghiên cứu ẩn dụ ý niệm cảm xúc, giới hạn ở năm loại hình cảm xúc vui, buồn, giận, sợ, yêu biểu hiện trong thành ngữ tiếng Việt, có so sánh với thành ngữ tiếng Anh tương ứng dưới góc nhìn ngữ nghĩa học tri nhận. Luận án sử dụng phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích ngữ nghĩa và phương pháp đối chiếu làm cơ sở cho nghiên cứu, kết hợp với phương pháp thống kê định lượng và định tính để bổ sung cho kết quả nghiên cứu. Luận án phân tích các đặc điểm ẩn dụ ý niệm của năm loại cảm xúc vui, buồn, giận, sợ, yêu được biểu đạt trong 503 tổ hợp thành ngữ tiếng Việt và 419 tổ hợp thành ngữ tiếng Anh, dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết ẩn dụ ý niệm, lý thuyết lược đồ hình ảnh và các mô hình ẩn dụ cảm xúc. Các miền nguồn cơ bản được chọn lọc để khảo sát bao gồm VẬT CHỨA, PHƯƠNG HƯỚNG, LỰC TÁC ĐỘNG, SỞ HỮU, NHIỆT ĐỘ, SINH THỂ. Ngoài ra, một số miền nguồn đặc trưng cho từng loại cảm xúc cũng được xem xét và phân tích đối chiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ chế hình thành nghĩa của thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh biểu thị năm loại cảm xúc vui, buồn, giận, sợ, yêu chủ yếu dựa trên kinh nghiệm hiện thân phổ quát trong sự tương tác với văn hóa và môi trường dẫn đến sự tương đồng và khác biệt ở hai ngôn ngữ. Sự tương đồng trong biểu hiện ẩn dụ ý niệm cảm xúc của thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh bộc lộ ở chỗ thành ngữ của cả hai ngôn ngữ này đều sử dụng kinh nghiệm hiện thân, các mô hình ẩn dụ tri nhận phổ quát và các mô hình văn hóa chung của nhân loại. Sự khác biệt thể hiện ở mô hình văn hóa và tri nhận theo hướng thành ngữ tiếng Việt ẩn chứa nhiều yếu tố nghĩa biểu trưng sáng tạo và tinh tế. Tuy nhiên, điều này không hề phủ định tính sâu sắc và chặt chẽ của thành ngữ tiếng Anh tương ứng. Bên cạnh đó, luận án khảo sát việc ứng dụng ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong quy trình dịch 339 thành ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt của sáu quyển từ điển thành ngữ song ngữ Anh-Việt, từ đó có những đề xuất về quy trình và thủ pháp dịch thành ngữ ẩn dụ cảm xúc, chú ý đến việc lựa chọn biểu thức ngôn ngữ tương đương có xét đến đặc điểm ẩn dụ ý niệm của hai ngôn ngữ đang được dịch, cụ thể là tiếng Anh và tiếng Việt trong luận án này.)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Trương, Thùy Hương.;  Advisor: Vũ, Thị Phương Anh.; Huỳnh, Bá Lân.;  Co-Author: 2017 (Nghịch ngữ, trùng ngữ, hoán đổi là những hiện tượng ngôn ngữ xuất hiện từ lâu trong tiếng Việt cũng như tiếng Anh. Chúng là những hiện tượng ngôn ngữ có giá trị nhận thức và biểu đạt rất cao, tạo ra những hiệu ứng ngữ nghĩa mạnh mẽ, góp phần mang lại cảm xúc thú vị cho người đọc, người nghe. Về mặt cấu tạo, nghịch ngữ, trùng ngữ, hoán đổi có thể xuất hiện ở các cấp độ từ, cụm từ, mệnh đề và trên mệnh đề. Về mặt ngữ nghĩa, hiện tượng nghịch ngữ được hình thành trên hai mối quan hệ: mâu thuẫn và phủ định; hiện tượng trùng ngữ được hình thành trên hai mối quan hệ: đồng nhất và bao hàm; hiện tượng hoán đổi được hình thành trên bốn mối quan hệ: liên tưởng, bao hàm, phụ thuộc, nhân quả. Về mặt hành chức, chúng là những hiện tượng phổ biến, được sử dụng trong nhiều phong cách ngôn ngữ. Tiếng Anh và tiếng Việt đều chứa đựng hiện tượng nghịch ngữ, trùng ngữ, hoán đổi và có những điểm tương đồng, khác biệt nhất định về đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và giá trị sử dụng trong các phong cách ngôn ngữ.)

  • Thesis


  • Authors: Nguyễn, Thị Bích Ngoan.;  Advisor: Lê, Trung Hoa; Nguyễn, Thị Kiều Thu;  Co-Author: 2016 (Nhằm tìm hiểu các phương thức danh hóa trong tiếng Anh và tiếng Việt, qua đó đưa ra một bức tranh có tính so sánh đối chiếu những nét tương đồng và khác biệt có tính loại hình của hiện tượng này trong hai ngôn ngữ nói trên. Các kết quả nghiên cứu của công trình có thể góp phần bổ sung, hoàn thiện, hệ thống hóa phương thức và ngữ nghĩa của hiện tượng danh hóa trong tiếng Anh và tiếng Việt, Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp miêu tả, phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu. Ngữ liệu khảo sát chủ yếu từ 18 tác phẩm văn học và truyện ngắn Anh - Việt và từ báo chí cũng như ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày. Kết luận: Trong tiếng Anh, bản chất của danh hóa là tạo ra từ mới chủ yếu bằng phương thức phụ gia phụ tố. Trong tiếng Việt, trái lại, bản chất của phương thức danh hóa trong tiếng Việt là phương thức ghép từ. Về hình thức, các yếu tố danh hóa trong tiếng anh đa dạng, phong phú hơn trong tiếng Việt. Về mặt ngữ nghĩa, kết quả của các tổ hợp danh hóa trong tiếng Anh lại rõ ràng và dễ hiểu hơn tiếng Việt , dễ sử dụng vì có quy tắc rõ ràng còn trong tiếng Việt thì ngữ nghĩa lại phức tạp hơn, đòi hỏi người dùng phải tinh tế trong cách chọn các yếu tố danh hóa. Kết quả nghiên cứu đóng góp thêm về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn về hiện tượng danh hóa trong hai ngôn ngữ nhằm giúp người dạy và người học hai ngôn ngữ trên dễ dàng nắm bắt và sử dụng phương thức danh hóa một cách linh động hơn và tinh tế hơn.)

  • Thesis


  • Authors: Trần, Vũ Tuấn.;  Advisor: Nguyễn, Thanh Tùng;  Co-Author: 2016 (Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận án được trình bày thành ba chương:  Chương 1: Cơ sở lí luận Trong chương này, chúng tôi khảo sát những vấn đề lí luận của ngôn ngữ học tri nhận có liên quan trực tiếp đến luận án bao gồm ý niệm, ý niệm hóa, ẩn dụ ý niệm và mô hình tri nhận. Cụ thể, chúng tôi trình bày khái quát về ý niệm, cấu trúc của ý niệm, phân biệt giữa ý niệm và khái niệm, quá trình ý niệm hóa - một trong những quá trình quan trọng để làm rõ một ý niệm. Vấn đề ẩn dụ ý niệm cũng được phân tích, làm rõ trên các khía cạnh: khái niệm, sự khác nhau giữa ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ngôn ngữ, cấu trúc của ẩn dụ ý niệm, ánh xạ giữa miền ý niệm Nguồn và miền ý niệm Đích. Đồng thời, chúng tôi cũng liệt kê một số miền ý niệm Nguồn phổ biến được người Anh sử dụng để làm rõ các miền ý niệm Đích. Chúng tôi cũng trình bày một số mô hình tri nhận và ứng dụng của từng mô hình vào việc giải quyết các vấn đề trong ngôn ngữ học tri nhận. Cuối cùng, chúng tôi đi sâu phân tích cấu tạo của một mô hình tri nhận lí tưởng.  Chương 2: Ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG và ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt và tiếng Anh Trong chương này, chúng tôi tập trung vận dụng cơ sở lí thuyết về ẩn dụ ý niệm được xác lập trong chương 1 để phân tích ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh đã thu thập nhằm xác định ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG và ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC. Vận dụng lí luận về ánh xạ giữa miền ý niệm Nguồn và miền ý niệm Đích vào việc phân tích ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG và ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC nhằm làm rõ các miền ý niệm Nguồn cụ thể, thuộc về vật chất được người Việt và người Anh sử dụng để ánh xạ lên hai miền ý niệm Đích mang tính trừu tượng là QUÊ HƯƠNG và ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt và tiếng Anh để giúp chúng ta làm rõ ý niệm QUÊ HƯƠNG và ĐẤT NƯỚC. Trên cơ sở kết quả phân tích ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG và ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh nhằm chỉ ra những tương đồng và dị biệt giữa người Việt và người Anh trong tri nhận về QUÊ HƯƠNG và ĐẤT NƯỚC để rút ra được đặc trưng tri nhận của người Việt và người Anh đối với hai ý niệm trên.  Chương 3: Mô hình tri nhận QUÊ HƯƠNG và mô hình tri nhận ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt và tiếng Anh Trong chương này, trên cơ sở tổng hợp các ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG và ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC được trình ở chương 2 và vận dụng cơ sở lí thuyết về một số mô hình tri nhận lí tưởng được trình bày ở chương 1, chúng tôi sẽ xây dựng các mô hình tri nhận lí tưởng, đóng vai trò là cấu trúc toàn thể qua đó làm rõ ý niệm QUÊ HƯƠNG và ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt và tiếng Anh. Việc xác lập được các mô hình tri nhận lí tưởng QUÊ HƯƠNG và ĐẤT NƯỚC như vậy sẽ góp phần làm rõ hơn và giúp chúng ta thấy được toàn thể “bức tranh” tri nhận của người Việt và người Anh đối với hai ý niệm QUÊ HƯƠNG và ĐẤT NƯỚC. Chúng tôi cũng tiến hành so sánh nhằm rút ra những tương đồng và dị biệt trong lối tri nhận QUÊ HƯƠNG và ĐẤT NƯỚC giữa người Việt và người Anh để thấy được đặc trưng tri nhận của hai dân tộc.)

  • Thesis


  • Authors: Nguyễn, Hoàng Phương.;  Advisor: Nguyễn, Đức Dân;  Co-Author: 2016 (Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, nội dung của luận án được trình bày thành ba chương:  Chương 1: Cơ sở lí luận Trong chương này chúng tôi khảo sát các quan điểm và nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận trong việc nghiên cứu ngôn ngữ. Từ đó xác định các khái niệm và các lí luận cơ sở để xây dựng nội dung của luận án và làm rõ các đặc điểm tri nhận của động từ tri giác, so sánh đối chiếu chúng giữa tiếng Việt và tiếng Anh. Bộ máy các khái niệm và lí luận cơ sở đó gồm có: tri giác, tri nhận, mối liên hệ giữa tri giác và tri nhận, động từ tri giác, và đặc điểm tri nhận. Trong các đặc điểm tri nhận chúng tôi sẽ làm rõ các vấn đề: không gian tri nhận, cơ chế tri nhận, mô hình tri nhận, khung tri nhận, ngữ nghĩa tri nhận, logic tri nhận, tiêu điểm tri nhận và ẩn dụ tri nhận.  Chương 2: Không gian tri nhận của động từ tri giác Trong chương này chúng tôi tập trung khảo sát, so sánh đối chiếu các yếu tố có mặt và chi phối không gian tri nhận của động từ tri giác. Trước tiên chúng tôi khảo sát cơ chế tri nhận, mô hình tri nhận của các động từ tri giác tiếng Việt và tiếng Anh. Sau đó nghiên cứu các đặc điểm không gian tri nhận của động từ tri giác. Các yếu tố trong không gian tri nhận của động từ tri giác gồm có các yếu tố vật thể và các yếu tố phi vật thể. Các yếu tố vật thể gồm có chủ thể tri nhận, thực thể được tri nhận, cơ quan tri giác, nguồn. Các yếu tố phi vật thể gồm có các yếu tố không gian, các yếu tố bản thể và các yếu tố thông tin. Các yếu tố không gian gồm có vị trí tri nhận của chủ thể và đối thể, khoảng cách tri nhận, đường dẫn tri nhận, chiều tri nhận, độ nét, phân lớp, qui hoạch. Các yếu tố bản thể gồm có cách thức tri nhận, tính chủ ý, tính tri giác, tính trực tiếp-gián tiếp, văn hóa, trí tuệ, dân tộc, địa lí, chính trị, tư duy. Các yếu tố thông tin gồm có cơ chế nhận-phát, điểm nhìn và tiêu điểm tri nhận.  Chương 3: Ngữ nghĩa tri nhận của động từ tri giác Trong chương này chúng tôi tập trung khảo sát, so sánh đối chiếu các đặc điểm nổi bật về ngữ nghĩa tri nhận của động từ tri giác. Trước hết, chúng tôi nêu các đặc điểm thú vị về logic tri nhận của động từ tri giác trong đó nhấn mạnh ở chỗ ý nghĩa phủ định và tính chân ngụy. Ý nghĩa phủ định của động từ tri giác ngoài các yếu tố logic hình thức chi phối ra còn phụ thuộc vào năng lực tri giác của chủ thể. Tính chân ngụy trong các phát ngôn có chứa động từ tri giác thì phụ thuộc cả logic hình thức và logic phi hình thức. Nó cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi năng lực tri giác. Tiếp theo chúng tôi áp dụng cách phân loại ngữ nghĩa của động từ tri giác theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đối với tiếng Anh để phân loại ngữ nghĩa của động từ tri giác tiếng Việt. Sau đó chúng tôi khảo sát các kiểu chuyển dịch ngữ nghĩa tri nhận của động từ tri giác từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại, so sánh đối chiếu những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ. Cuối cùng chúng tôi khảo sát ẩn dụ tri nhận của động từ tri giác trong đó làm rõ cơ chế ẩn dụ và các phương thức ẩn dụ tri nhận của động từ tri giác tiếng Việt và tiếng Anh.)

  • Thesis


  • Authors: Phạm, Thị Thu Phương.;  Advisor: Nguyễn, Hoàng Trung; Huỳnh, Văn Thông;  Co-Author: 2016 (Luận án nghiên cứu sự hình thành ý nghĩa thể của sự tình chuyển động tiếng Anh và các yếu tố tham gia vào quá trình này bao gồm tác động của các thuộc tính ngữ nghĩa của vị từ chuyển động đến góc nhìn của người miêu tả sự tình liên quan. Luận án lựa chọn hướng tiếp cận tri nhận (L.Talmy) với lớp vị từ chuyển động để khảo sát các yếu tố tạo ý nghĩa thể của lớp vị từ này đó là hình thái của vị từ. Phân tích các đặc trưng ngữ nghĩa của lớp vị từ chuyển động tiếng Anh và xác định thành tố nào của chuyển động được mã hoá trong cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ. Phân tích các giới ngữ có thể xuất hiện sau các vị từ chuyển động, xác định vai trò của chúng trong cấu trúc ngữ nghĩa của sự tình chuyển động.)

  • Thesis


  • Authors: Nguyễn, Kim Loan.;  Advisor: Đinh, Lê Thư;  Co-Author: 2015 (Phép lịch sự và hiệu quả trong giao tiếp là một trong những vấn đề thiết yếu được đề cập đến trên bình diện ngữ dụng. Ngành hàng không của nước ta nói riêng và của thế giới nói chung rất coi trọng yếu tố an toàn, lịch sự và hiệu quả. Ngành hàng không của nước ta còn non trẻ so với ngành hàng không của các nước khác nên rất cần nhiều nghiên cứu để hoàn thiện và phát triển. Từ trước đến nay có nhiều đề tài nghiên cứu về ngành hàng không chủ yếu là về kỹ thuật và kinh tế, ít có đề tài nghiên cứu về ngôn ngữ giao tiếp trong ngành hàng không. Đề tài “Phép lịch sự và hiệu quả trong giao tiếp hàng không (trong tiếng Việt và tiếng Anh)” được trở thành một đối tượng nghiên cứu riêng cho một luận án khoa học tại Việt Nam. Đề tài này có tính cấp thiết cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy và sử dụng tiếng Anh chuyên ngành hàng không cho các đối tượng là nhân viên hàng không đang làm việc trong chuyên ngành Phục vụ hành khách và Kiểm soát không lưu.)

  • Thesis


  • Authors: Lê, Thị Ngọc Điệp.;  Advisor: Đỗ, Thị Bích Lài; Huỳnh, Thị Hồng Hạnh;  Co-Author: 2013 (- Chương 1 trình bày một vài vấn đề lí thuyết về thụ đắc ngôn ngữ và một số khái niệm làm công cụ cho việc miêu tả các đơn vị ngôn ngữ trong sách giáo khoa (SGK). - Chương 2 trình bày kết quả thống kê, miêu tả và phân tích về các đơn vị ngôn ngữ thuộc cấp độ ngữ âm và từ vựng được sử dụng trong SGK môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở Việt Nam. - Chương 3 trình bày kết quả thống kê, miêu tả và phân tích về các đơn vị ngôn ngữ thuộc cấp độ ngữ, câu và văn bản được sử dụng trong SGK môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở Việt Nam. - Chương 4 trình bày kết quả thống kê, miêu tả, phân tích, nhận xét về các đơn vị ngôn ngữ được sử dụng trong SGK môn Tiếng Anh bậc tiểu học ở Singapore; so sánh đối chiếu các đơn vị ngôn ngữ được sử dụng trong hai bộ SGK Tiếng Việt và Tiếng Anh; qua đó đưa ra một số ý kiến trao đổi về việc chỉnh lí, biên soạn SGK môn Tiếng Việt trong giai đoạn mới về nội dung ngôn ngữ.)