Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Vũ, Toản.;  Advisor: Vũ, Văn Gầu.; Nguyễn, Anh Quốc.;  Co-Author: 2017 (Phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân, đời sống của người lao động là những vấn đề cơ bản được đề cập ở mọi xã hội trong quá trình phát triển. Mục tiêu phát triển kinh tế là nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là phát triển văn hóa, phát triển con người, nâng cao chất lượng sống của các tầng lớp nhân dân, của người lao động. Ngày nay, những tiến bộ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ đã giúp nhân loại trong việc chinh phục và khai thác tự nhiên, đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội. Song, những nguồn lực tự nhiên ngày càng cạn kiệt, môi trường - sinh thái bị ô nhiễm đã đe dọa nghiêm trọng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và phát triển con người. Chính vì vậy, việc xác định giá trị đích thực của phát triển, đồng thời tập hợp, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển bền vững ở thành phố Hồ Chí Minh trở thành nhu cầu cần thiết. Tác giả luận án đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp lịch sử và logic, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp diễn dịch, quy nạp, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa từ các nguồn tài liệu tham khảo. Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước. Mục tiêu phát triển Thành phố trở thành nơi có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình. Thành phố Hồ Chí Minh đang tiếp tục đảm nhận trọng trách tạo cảm hứng và động lực tiếp tục sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những thành tựu kinh tế - xã hội của Thành phố đạt được đến nay là quan trọng, góp cùng sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của Thành phố. Kinh tế phát triển chưa bền vững; lợi ích mang lại từ tăng trưởng kinh tế chưa cao; mức sống, chất lượng sống của nhân dân, người lao động vẫn đang là vấn đề tồn tại gây nhiều bức xúc và cần được khắc phục để phát triển kinh tế với nâng cao đời sống người lao động thực sự trở thành nguồn lực, động lực phát triển Thành phố.)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Ngô, Thị Huyền.;  Advisor: Nguyễn, Thế Nghĩa.;  Co-Author: 2017 (Nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương: Thứ nhất, luận án phân tích và trình bày một cách có hệ thống các điều kiện, tiền đề, quá trình hình thành và phát triển quan điểm về con người trong triết học Mác. Thứ hai, luận án trình bày một cách hệ thống và phân tích, làm sáng tỏ những nội dung cơ bản quan điểm của triết học Mác về con người và giải phóng con người, đó là: Quan điểm triết học Mác về bản chất con người, về vai trò và vị trí của con người và về sự tha hóa con người; quan điểm triết học Mác về sự tha hóa con người với tư cách là điểm xuất phát của lý luận giải phóng con người, là cơ sở để khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản; và quan điểm triết học Mác về giải phóng con người. Thứ ba, từ kết quả nghiên cứu, luận án nêu ra và phân tích ý nghĩa của quan điểm về con người trong triết học Mác đối với sự nghiệp giải phóng con người ở Việt Nam hiện nay. Về mặt lý luận, quan điểm về con người trong triết học Mác là cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định lý tưởng, mục tiêu giải phóng con người trong cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; cũng là cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nội dung giải phóng con người thời kỳ đổi mới. Về thực tiễn, quan điểm về con người trong triết học Mác là cơ sở phương pháp luận để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định cách thức giải phóng con người Việt Nam hiện nay.)

  • Thesis


  • Authors: Trịnh, Thị Kim Chi.;  Advisor: Đinh, Ngọc Thạch;  Co-Author: 2017 (Giá trị nhân văn là một trong những giá trị căn bản, khẳng định, đề cao vai trò và bản chất tốt đẹp của con người. Dân tộc Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước, luôn đề cao tinh thần, giá trị nhân văn. Chính những giá trị nhân văn ấy đã góp phần khẳng định cốt cách, bản sắc Việt Nam; đó cũng chính là một trong những nhân tố góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong lịch sử. Nhận thức sâu sắc ý nghĩa đó, trong quá trình cách mạng cũng như trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta luôn đề cao và phát huy vai trò của con người; do đó chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, thành quả của công cuộc đổi mới mà nước ta đạt được chỉ là bước đầu, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, nhân dân ta phải phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa, tạo thành sức mạnh tổng hợp, đưa công cuộc đổi mới đến thành công. Trong đó, phát huy nhân tố con người là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Vì thế, nghiên cứu giá trị nhân văn của Phan Bội Châu, từ đó rút ra những bài học lịch sử, góp phần vào việc phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực. Giá trị nhân văn trong tư tưởng của Phan Bội Châu hình thành, chính là sự phản ánh những điều kiện lịch sử và yêu cầu cấp thiết của xã hội Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đặt ra, đó là yêu cầu giải phóng cho nhân dân các dân tộc nói chung và cho dân tộc Việt Nam nói riêng. Là hình thái ý thức xã hội, giá trị nhân văn trong tư tưởng Phan Bội Châu còn là sự tiếp thu những tiền đề tư tưởng trước đó. Đó là tinh thần yêu nước thương nòi, là ý chí độc lập dân tộc, là lòng nhân ái, vị tha, là tinh thần cố kết cộng đồng trong truyền thống văn hoá Việt Nam; đó còn là tư tưởng đề cao giá trị tốt đẹp trong đạo lý, “cương thường” con người của Nho giáo, quan điểm “đại từ bi, chúng sinh bình đẳng” của Phật giáo, “ái nhân như kỷ” của đạo Datô; là quan điểm tiến bộ về xã hội và con người, như quan điểm nhân quyền, tự do, dân chủ, bình đẳng trong tư tưởng phương Tây. Trong đó, đặc biệt là tư tưởng giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin. Giá trị nhân văn trong tư tưởng Phan Bội Châu là tổng hợp các nội dung: quan điểm đề cao vai trò, địa vị và giá trị con người trên phương diện thế giới quan và phương diện nhân sinh quan, chính trị - xã hội; từ đó đi tới đề cao bản chất, giá trị, nhân cách và quyền của con người, gắn liền với dân quyền, quốc quyền, độc lập, tự do, dân chủ, bình đẳng; quan điểm nhân ái, vị tha, thể hiện ở tình yêu thương đồng bào, yêu quý giống nòi, Tổ quốc, lòng căm thù giặc Pháp sâu sắc và tinh thần vị tha, khoan dung; quan điểm giáo dục nâng cao trí tuệ, nhân cách, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước cho người dân Việt Nam; đặc biệt là lý tưởng giải phóng cho dân tộc Việt Nam, bằng các phương pháp khác nhau. Tất cả đều xuất phát từ tôn chỉ đó là tinh thần dân tộc và lòng yêu nước thương nòi của Phan Bội Châu, với sự thống nhất chặt chẽ giữa văn hóa và chính trị, giữa tính dân tộc và tính nhân loại. Với nội dung và đặc điểm đặc sắc, giá trị nhân văn trong tư tưởng của Phan Bội Châu không chỉ đã làm phong phú, sâu sắc, sinh động nội dung tinh thần giá trị nhân văn của dân tộc Việt Nam mà còn góp phần khẳng định vai trò, sức mạnh của nhân dân, khơi dậy lòng tin của nhân dân, thức tỉnh tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, nung nấu chí căm thù giặc, hun đúc ý chí chiến đấu, là nguồn động lực to lớn, cổ vũ tinh thần cách mạng của quần chúng, động viên và tập hợp quần chúng đoàn kết đứng lên đánh đuổi giặc Pháp, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử quy định, giá trị nhân văn của Phan Bội Châu vẫn còn những hạn chế nhất định, như trong nội dung thể hiện giá trị nhân văn của mình, ông vẫn còn chịu ảnh hưởng của Nho giáo; ông chưa thực sự có một thế giới quan khoa học để đưa ra và lý giải một cách khoa học các quan điểm thể hiện giá trị nhân văn của ông cũng như những vấn đề khác đặt ra. Đặc biệt, Phan Bội Châu còn có sự mơ hồ trong xác định lực lượng nòng cốt cách mạng; dao động, thỏa hiệp, có khuynh hướng cải lương trong chủ trương và phương pháp cách mạng. Nếu bỏ qua những hạn chế ấy, giá trị nhân văn của ông vẫn còn là bài học lịch sử bổ ích trong việc đào tạo, sử dụng và phát huy hiệu quả nhân tố con người đối với công cuộc đổi mới đất nước và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.)

  • Thesis


  • Authors: Phạm, Thị Kiên.;  Advisor: Hồ, Anh Dũng; Nguyễn, Anh Quốc;  Co-Author: 2017 (Nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương: Thứ nhất, luận án làm rõ những vấn về lý luận chung và những nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lực lượng sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất. Trên cơ sở đó, luận án phân tích và làm rõ vai trò của công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quá trình phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay. Thứ hai, luận án tập trung làm rõ những điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, thực trạng tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quá trình phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay. Thứ ba, trên những kết quả nghiên cứu, luận án đã đề xuất năm nhóm giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay là: xây dựng, hoàn thiện chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách; thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; phát triển nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ; phát triển giáo dục, đào tạo.)

  • Thesis


  • Authors: Ngô, Quang Huy.;  Advisor: Đặng, Hữu Toàn; Lê, Quang Quý;  Co-Author: 2017 (Với Việt Nam chúng ta, văn hoá được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (được bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng ta đã khẳng định chủ trương xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhiệm vụ hàng đầu của việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chính là kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng ta còn phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc tiếp thu có chọn lọc những thành tựu, tinh hoa văn hoá của nhân loại nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Kiến trúc là một lĩnh vực văn hoá có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội, nên mọi sự vận động và phát triển của nó phải gắn với chủ trương xây dựng nền văn hoá mới mà Đảng đã đề ra. Tuy nhiên, sự phát triển của kiến trúc nước ta vẫn chưa thực hiện được phương châm “hiện đại và dân tộc”. Mặc dù sự phát triển của kiến trúc trong những năm gần đây đã ghi nhận nhiều thành tựu to lớn. Chúng ta tự hào đã có những công trình, đại lộ, cao ốc hiện đại. Tuy nhiên, về số lượng còn hạn chế, về chất lượng thật sự vẫn chưa bắt kịp tốc độ phát triển kinh tế và nhu cầu thực tiễn xã hội. Riêng về nội dung, mặc dù đã có trong tay rất nhiều chủng loại vật liệu bền chắc, dẻo dai cùng với khoa học và công nghệ hiện đại, nhưng lại đang loay hoay tìm kiếm một hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật kiến trúc có khả năng phản ánh những nét đặc sắc riêng có của dân tộc mình. Hiện tượng kiến trúc lai căng, quá đề cao tính hiện đại mà bỏ quên những giá trị truyền thống kiến trúc đang dần trở nên phổ biến. Đặc biệt, ở những đô thị sầm uất, trung tâm kinh tế lớn như thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta rất dễ bắt gặp những thành tựu trong phát triển kiến trúc đô thị. Đã có rất nhiều công trình cao ốc liên tục mọc lên, phản ánh sự năng động trong phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, xét về tổng thể bộ mặt kiến trúc, đang có những biểu hiện thiếu vắng yếu tố thẩm mỹ và cả yếu tố bản sắc. Vì vậy, trong sự phát triển của kiến trúc ở thành phố Hồ Chí Minh phải xác định mục tiêu “hiện đại – dân tộc”, đồng thời quan tâm đến việc phát huy tính hiện đại và truyền tải những giá trị truyền thống. Truyền thống trong kiến trúc được hiểu là tinh thần của dân tộc trong cấu trúc không gian, cái đó không chỉ nằm trong các chi tiết trang trí, mà chủ yếu nằm trong sự thích nghi của con người với môi trường sống, trong thói quen và phong tục tập quán lâu đời của dân tộc… Những giá trị truyền thống đó luôn có vai trò rất quan trọng và do vậy, nó cần phải được bảo tồn và phát huy. Hiện đại trong kiến trúc là tận dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại để đem lại sự tiện lợi cho mọi hoạt động của con người. Nói cách khác, phát triển kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh theo hướng “hiện đại – dân tộc” là phát huy quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại. Trong đó, truyền thống là cơ sở, nên tảng cho hiện đại, còn hiện đại là sự kế thừa, phát triển và bổ sung cho truyền thống trong kiến trúc. Yêu cầu đầu tiên đối với sự phát triển của kiến trúc thành phố, là sự phù hợp với con người và hoàn cảnh đặc thù riêng có của nơi đây. Bên cạnh đó, phải tiếp thu những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ kiến tạo nên những công trình hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển. Nói cách khác, việc kết hợp hài hoà truyền thống và hiện đại là chìa khoá để kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh có được tính bền vững, bảo đảm sự phát triển cho người dân thành phố hôm nay và các thể hệ trong tương lai.)

  • Thesis


  • Authors: Đỗ, Thị Thùy Trang.;  Advisor: Phạm, Đình Nghiệm;  Co-Author: 2016 (Aristotle là bộ óc bách khoa của nền triết học và khoa học Hy Lạp cổ đại. Trong hệ thống triết học của ông, tư tưởng chính trị giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Trong lĩnh vực chính trị, Aristotle đã có nhiều công trình nghiên cứu hết sức công phu, tiêu biểu là tác phẩm Chính trị. Tác phẩm đã bàn đến rất nhiều vấn đề trong đời sống chính trị và những vấn đề đó đã trở thành điểm xuất phát để khoa học chính trị quan tâm nghiên cứu. Với những yếu tố tích cực chứa đựng bên trong, tư tưởng chính trị Aristotle tạo nên ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây và có ý nghĩa đối với đời sống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Đó là lý do nghiên cứu sinh chọn đề tài “Tư tưởng chính trị của Aristotle trong tác phẩm Chính trị - Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử” làm đề tài luận án tiến sỹ. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 3 chương 7 tiết. Trong chương 1, luận án tập trung phân tích điều kiện lịch sử, tiền đề lý luận của sự hình thành tư tưởng chính trị Aristotle trong tác phẩm Chính trị; đồng thời làm sáng tỏ cuộc đời, sự nghiệp và giới thiệu khái quát một số tác phẩm chính trị tiêu biểu của ông. Trong chương 2, luận án tập trung phân tích những nội dung cơ bản của tác phẩm Chính trị như: quan điểm về thể chế chính trị, các hình thức cai trị, mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, sở hữu, giáo dục. Từ đó, luận án rút ra 4 đặc điểm cơ bản trong tư tưởng chính trị Aristotle: tính kế thừa, tính thống nhất giữa tư tưởng chính trị với tư tưởng đạo đức và thế giới quan, tính thực tiễn và tính nhân văn. Trong chương 3, luận án rút ra ý nghĩa của tư tưởng chính trị Aristotle đối với lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây và ý nghĩa đối với đời sống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Đối với lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây, tác phẩm Chính trị đã trở thành một tác phẩm kinh điển về “nghệ thuật quyền lực”; tư tưởng của ông đã tạo nên dấu ấn sâu sắc trong lịch sử tư tưởng từ Polybe, Cicero thời cổ đại; Thomas Aquinas thời trung cổ; J. Locke, Ch. Montexquie, J.S.Mill thời cận đại; đồng thời, còn tạo nên ảnh hưởng đối với đời sống chính trị hiện đại. Đối với đời sống chính trị ở Việt Nam, tư tưởng chính trị Aristotle còn có ý nghĩa thiết thực ở một số vấn đề sau: sự kết hợp giữa chính trị và đạo đức, nhà nước phải phát huy tinh thần chịu trách nhiệm, phân quyền để đạt đến sự cân bằng quyền lực và kiểm soát quyền, củng cố và tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà nước với nhân dân, xây dựng một nền giáo dục chú trọng giáo dục đạo đức và phù hợp với chế độ chính trị.)

  • Thesis


  • Authors: Bùi, Xuân Dũng.;  Advisor: Trương, Giang Long;  Co-Author: 2016 (Nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương: Thứ nhất, luận án làm rõ những vấn về lý luận chung và những nội dung của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, luận án phân tích và làm rõ vai trò của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay. Thứ hai, luận án tập trung làm rõ những điểm về thành tựu và hạn chế của việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, nguyên nhân chủ quan và khách quan trong việc kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống nguồn nhân lực trong quá trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay. Thứ ba, trên những kết quả nghiên cứu, luận án đã đề xuất bốn nhóm giải pháp cơ bản là: Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nguồn nhân lực; Nâng cao nhận thức về kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, bộ máy tổ chức, quản lý, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; Đổi mới phương thức giáo dục)