Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Lê, Kinh Quốc.;  Advisor: Nguyễn, Văn Huệ.;  Co-Author: 2019 (Trên cơ sở lý thuyết ngôn ngữ trung gian, thông qua đối chiếu ba ngôn ngữ: tiếng Anh (Li) của 50 sinh viên miền Tây Nam Bộ, tiếng Anh (L2) của nhóm người Anh bản ngữ ở miền Nam Vương quốc Anh và tiếng Việt (L1) của sinh viên, luận án khảo sát năng lực tạo sản các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính Li của những sinh viên này trên hai bình diện “đúng chuẩn” và “lệch chuẩn”, nêu ra nguyên nhân gây ra các kiểu lỗi phát âm và đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi. Nhằm hướng tới mục tiêu này, chúng tôi đã thực hiện 16 thực nghiệm ngữ âm học, phân tích và đánh giá 6 đơn vị Li: (1) nguyên âm đơn, (2) phụ âm đầu, (3) trọng âm, (4) nhịp điệu, (5) tầm âm vực và (6) ngữ điệu. Kết quả cho thấy năng lực thể hiện các đơn vị Li đích của sinh viên bị chi phối chủ yếu bởi (a) tập quán (thói quen) mà bộ máy phát âm của họ hành chức cho hệ thống ngữ âm trong tiếng mẹ đẻ; (b) chuyển di ngôn ngữ từ L1; (c) quy tắc tần số (Ohala, 1983); và (d) quy tắc tạo sản (Liberman, 1967).)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Phạm, Hồng Hải.;  Advisor: Lê, Kính Thắng.; Nguyễn, Công Đức.;  Co-Author: 2019 (Tính từ tiếng Việt, như các từ loại khác, có vai trò rất quan trọng, và, hầu hết các tài liệu về ngữ pháp tiếng Việt đều ít nhiều đề cập đến từ loại này. Quan điểm cũng như những nghiên cứu về nó cho thấy đây là đối tượng nghiên cứu phức tạp, còn nhiều bất đồng trong giới Việt ngữ học. Trong tiếng Việt, từ loại này được nhiều học giả cho là có nhiều nét tương đồng với từ loại động từ tuy nhiên cơ sở cho kết luận như vậy thường chủ yếu dựa trên những tương đồng về hoạt động cú pháp. Bằng cách khảo sát cấu trúc tham tố, luận án này góp phần tìm hiểu bản chất của tính từ tiếng Việt cũng như sự tương đồng của tính từ với động từ trong tiếng Việt ở một góc độ khác, hay nói rõ hơn, chúng tôi nghiêng về quan điểm nên hợp nhất hai nhóm từ này thành một từ loại (vị từ). Sự khác biệt giữa chúng, chủ yếu ở phương diện nghĩa. Đóng góp lớn nhất của luận án để góp phần hợp nhất hai nhóm từ này là: cung cấp thêm tiêu chí cấu trúc tham tố - khẳng định tính từ cũng có cấu trúc tham tố tương đồng với cấu trúc tham tố của động từ, và tính từ cũng tương đồng với động từ trong khả năng làm hạt nhân của cấu trúc tham tố; Trên bình diện cú pháp, ở vai trò trung tâm vị ngữ, tính từ tiếng Việt cũng thể hiện tính nội động/ ngoại động tương đồng với động từ.)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Trần, Thanh Dũ.;  Advisor: Lê, Thị Thanh.; Lưu, Trọng Tuấn.;  Co-Author: 2018 (Luận án được thực hiện nhằm tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ khẩu hiệu tuyên truyền tiếng Việt theo hướng kết hợp giữa cấu trúc luận và chức năng luận, sử dụng khía cạnh dụng học và chức năng phản ánh xã hội của ngôn ngữ làm cơ sở; đối chiếu với tiếng Anh để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng, cũng qua đó nêu bật đặc điểm ngôn ngữ của khẩu hiệu tuyên truyền tiếng Việt.)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Nguyễn, Thị Lan Chi;  Advisor: Nguyễn, Đức Dân.; Nguyễn, Đình Phức.;  Co-Author: 2018 (Luận án nghiên cứu hàm ý hội thoại theo cách tiếp cận của nhà triết học ngôn ngữ người Anh - Herbert Paul Grice. Luận án khảo sát lời thoại của các nhân vật giao tiếp trên cứ liệu một số tác phẩm văn học, dạng song thoại của tiếng Việt và tiếng Hán (hiện đại), nhằm tìm ra những phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn chủ yếu theo nguyên tắc vi phạm các phương châm hội thoại (Lượng, Chất, Quan hệ và Cách thức) của Grice. Nội dung chính của luận án là: 1/ Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết; 2/ Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong truyện ngắn và kịch tiếng Việt (“Tuyển tập Nam Cao” và tuyển kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt”); 3/ Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong truyện ngắn và kịch tiếng Hán (“Truyện ngắn Lỗ Tấn” và kịch “Lôi Vũ”); 4/ So sánh phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn (trong các tác phẩm đã nghiên cứu).)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Phạm, Văn Thỏa.;  Advisor: Nguyễn, Công Đức.;  Co-Author: 2017 (Luận án tập trung vào cấu trúc trường ý niệm cảm xúc trong tiếng Việt từ 2 góc độ nghiệm thân và thuật nhớ ẩn dụ. Cấu trúc trường ý niệm cảm xúc có mối quan hệ tôn ti và được cấu trúc từ các yếu tố là điểm tri nhận. Lần lượt các điểm tri nhận cấu trúc nên các bộ thuộc tính – giá trị. Ở mức độ lớn hơn, mối quan hệ tôn ti tiếp tục làm vai trò cấu tạo nên toàn bộ cấu trúc trường ý niệm cảm xúc.)

  • Thesis


  • Authors: Trần, Thế Phi.;  Advisor: Nguyễn, Văn Huệ; Nguyễn, Thị Hai;  Co-Author: 2016 (Luận án nghiên cứu ẩn dụ ý niệm cảm xúc, giới hạn ở năm loại hình cảm xúc vui, buồn, giận, sợ, yêu biểu hiện trong thành ngữ tiếng Việt, có so sánh với thành ngữ tiếng Anh tương ứng dưới góc nhìn ngữ nghĩa học tri nhận. Luận án sử dụng phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích ngữ nghĩa và phương pháp đối chiếu làm cơ sở cho nghiên cứu, kết hợp với phương pháp thống kê định lượng và định tính để bổ sung cho kết quả nghiên cứu. Luận án phân tích các đặc điểm ẩn dụ ý niệm của năm loại cảm xúc vui, buồn, giận, sợ, yêu được biểu đạt trong 503 tổ hợp thành ngữ tiếng Việt và 419 tổ hợp thành ngữ tiếng Anh, dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết ẩn dụ ý niệm, lý thuyết lược đồ hình ảnh và các mô hình ẩn dụ cảm xúc. Các miền nguồn cơ bản được chọn lọc để khảo sát bao gồm VẬT CHỨA, PHƯƠNG HƯỚNG, LỰC TÁC ĐỘNG, SỞ HỮU, NHIỆT ĐỘ, SINH THỂ. Ngoài ra, một số miền nguồn đặc trưng cho từng loại cảm xúc cũng được xem xét và phân tích đối chiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ chế hình thành nghĩa của thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh biểu thị năm loại cảm xúc vui, buồn, giận, sợ, yêu chủ yếu dựa trên kinh nghiệm hiện thân phổ quát trong sự tương tác với văn hóa và môi trường dẫn đến sự tương đồng và khác biệt ở hai ngôn ngữ. Sự tương đồng trong biểu hiện ẩn dụ ý niệm cảm xúc của thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh bộc lộ ở chỗ thành ngữ của cả hai ngôn ngữ này đều sử dụng kinh nghiệm hiện thân, các mô hình ẩn dụ tri nhận phổ quát và các mô hình văn hóa chung của nhân loại. Sự khác biệt thể hiện ở mô hình văn hóa và tri nhận theo hướng thành ngữ tiếng Việt ẩn chứa nhiều yếu tố nghĩa biểu trưng sáng tạo và tinh tế. Tuy nhiên, điều này không hề phủ định tính sâu sắc và chặt chẽ của thành ngữ tiếng Anh tương ứng. Bên cạnh đó, luận án khảo sát việc ứng dụng ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong quy trình dịch 339 thành ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt của sáu quyển từ điển thành ngữ song ngữ Anh-Việt, từ đó có những đề xuất về quy trình và thủ pháp dịch thành ngữ ẩn dụ cảm xúc, chú ý đến việc lựa chọn biểu thức ngôn ngữ tương đương có xét đến đặc điểm ẩn dụ ý niệm của hai ngôn ngữ đang được dịch, cụ thể là tiếng Anh và tiếng Việt trong luận án này.)

  • Thesis


  • Authors: Trương, Văn Định.;  Advisor: Nguyễn, Công Đức;  Co-Author: 2017 (Luận án nghiên cứu ba nội dung: a. Thái độ biểu hiện qua phát ngôn phê bình tiếng Việt và tiếng Anh-Mĩ. b. Dấu hiệu từ vựng - tình thái trong phát ngôn phê bình tiếng Việt và tiếng Anh-Mĩ. c. Từ xưng hô với tư cách là dấu hiệu tình thái trong phát ngôn phê bình tiếng Việt và tiếng Anh-Mĩ.)

  • Thesis


  • Authors: Trần, Lê Tâm Linh.;  Advisor: Đinh, Điền.;  Co-Author: 2017 (Dịch tự động là lĩnh vực đã được quan tâm nghiên cứu từ nhiều thập kỷ qua. Gần đây, lĩnh vực này đã đạt nhiều kết quả đáng kể và được ứng dụng trong nhiều mặt của đời sống. Trong xu hướng phát triển và hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới hiện nay, nhu cầu dịch các hợp đồng kinh tế ngày càng tăng, đặc biệt là các hợp đồng Anh-Việt và việc dịch thuật theo cách truyền thống không thể đáp ứng kịp. Do đó, công việc dịch tự động các hợp đồng kinh tế trở nên cấp thiết. Hiện nay, dịch tự động chưa thể dịch chính xác như người mà còn mắc nhiều lỗi. Vì thế, những lỗi ngôn ngữ khi dịch tự động Anh-Việt các hợp đồng kinh tế là một chủ đề cần được quan tâm. Mục tiêu của luận án là lập ra tiêu chí phân loại lỗi ngôn ngữ khi dịch tự động hợp đồng kinh tế Anh-Việt. Luận án đứng trên quan điểm ngôn ngữ học để khảo sát các loại lỗi ngôn ngữ, chủ yếu là lỗi chính tả, lỗi từ vựng và lỗi ngữ pháp khi dịch tự động hợp đồng kinh tế Anh-Việt để tìm ra quy luật phát sinh lỗi. Phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng để phân tích và thống kê các loại lỗi. Các kết quả nghiên cứu này sẽ làm cơ sở cho ngành tin học cài đặt các thuật toán khắc phục lỗi. Luận án sẽ tập trung vào việc phân loại các lỗi và tìm ra quy luật phát sinh lỗi.)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Trương, Thùy Hương.;  Advisor: Vũ, Thị Phương Anh.; Huỳnh, Bá Lân.;  Co-Author: 2017 (Nghịch ngữ, trùng ngữ, hoán đổi là những hiện tượng ngôn ngữ xuất hiện từ lâu trong tiếng Việt cũng như tiếng Anh. Chúng là những hiện tượng ngôn ngữ có giá trị nhận thức và biểu đạt rất cao, tạo ra những hiệu ứng ngữ nghĩa mạnh mẽ, góp phần mang lại cảm xúc thú vị cho người đọc, người nghe. Về mặt cấu tạo, nghịch ngữ, trùng ngữ, hoán đổi có thể xuất hiện ở các cấp độ từ, cụm từ, mệnh đề và trên mệnh đề. Về mặt ngữ nghĩa, hiện tượng nghịch ngữ được hình thành trên hai mối quan hệ: mâu thuẫn và phủ định; hiện tượng trùng ngữ được hình thành trên hai mối quan hệ: đồng nhất và bao hàm; hiện tượng hoán đổi được hình thành trên bốn mối quan hệ: liên tưởng, bao hàm, phụ thuộc, nhân quả. Về mặt hành chức, chúng là những hiện tượng phổ biến, được sử dụng trong nhiều phong cách ngôn ngữ. Tiếng Anh và tiếng Việt đều chứa đựng hiện tượng nghịch ngữ, trùng ngữ, hoán đổi và có những điểm tương đồng, khác biệt nhất định về đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và giá trị sử dụng trong các phong cách ngôn ngữ.)