Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Thesis


  • Authors: Trần, Thanh Hà.;  Co-Author: 2014 (Bản sắc dân tộc trong âm nhạc truyền thống người Việt gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển của dân tộc. Âm nhạc truyền thống người Việt chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và thay đổi theo lịch sử. Bản sắc dân tộc trong các tác phẩm piano của các tác giả Việt Nam như một hệ thống bao gồm các thành tố có quan hệ hữu cơ: (1) hình thái tác phẩm; (2) cấu trúc âm nhạc tác phẩm; và (2) kỹ thuật diễn tấu nhạc khí. Đặc điểm ngôn ngữ cũng ảnh hưởng đến cách thức xây dựng và cảm nhận âm nhạc của người Việt. Phương pháp nghiên cứu vận dụng trong luận án bao gồm phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp thống kê và phương pháp quan sát tham dự - phỏng vấn sâu. Luận án khảo sát hai trăm tác phẩm piano của 48 tác giả Việt Nam, có đối chiếu với một số tác phẩm piano của các tác giả nước ngoài để làm rõ bản sắc dân tộc trong các tác phẩm piano Việt Nam. Chương 1, Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận, Từ những công trình của các nhà nghiên cứu văn hóa, luận án xác định hướng nhận diện bản sắc văn hóa Việt Nam, sự ảnh hưởng của nó đến nghệ thuật truyền thống, đến âm nhạc truyền thống và xác định các tiêu chí để nhận diện bản sắc trong tác phẩm piano Việt Nam. Chương 2, Nghiên cứu bản sắc dân tộc qua hình thái và cấu trúc âm nhạc trong các tác phẩm piano Việt Nam. Vận dụng khung lý thuyết ở chương 1 để khảo sát và phân tích bản sắc dân tộc trong các tác phẩm piano Việt Nam qua các yếu tố: tiêu đề, nhịp điệu, nhịp độ và cấu trúc âm nhạc các tác phẩm piano Việt Nam. Chương 3: Nghiên cứu bản sắc dân tộc qua kỹ thuật diễn tấu nhạc khí piano ở Việt Nam. Xem xét đặc điểm, tính năng của nhạc khí piano, đối chiếu với đặc điểm, tính năng các nhạc khí truyền thống, các kỹ thuật diễn tấu của các nhạc khí truyền thống để khẳng định khả năng biểu đạt bản sắc dân tộc trong tác phẩm viết cho piano của các nhạc sỹ Việt Nam. Khả năng khai thác và vận dụng các kỹ thuật diễn tấu của piano theo phong vị nhạc khí truyền thống Việt Nam. Luận án gợi ra một số kiến nghị, bài học kinh nghiệm từ những sáng tác cho piano mà các tác giả đã vận dụng, sáng tạo. Những kinh nghiệm, thành quả đã có là cơ sở cho các tác giả các thế hệ sau có được giải pháp hữu hiệu, có thể vận dụng sáng tạo những tác phẩm piano mang đậm đà bản sắc dân tộc, lại có được hơi thở của cuộc sống, của thời đại; góp phần phát triển nghệ thuật sáng tác, biểu diễn piano Việt Nam và âm nhạc Việt Nam hiện đại.)

  • Thesis


  • Authors: Phạm, Thị Thúy Nguyệt.;  Co-Author: 2014 (Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án có ba chương. Chương thứ nhất trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến Internet, xã hội Internet và văn hoá Internet, định vị Internet trên hệ toạ độ ba chiều Chủ thể - Không gian - Thời gian. Chương hai tập trung nhận diện và phân tích mối quan hệ và tương tác giữa xã hội Internet với văn hoá Việt Nam thông qua một phân tích hệ thống về tiểu văn hoá Internet Việt Nam và lập danh sách các thế đối lập văn hoá giữa xã hội Internet với văn hoá Việt Nam. Chương ba nhận diện và phân tích các biến đổi văn hoá Việt diễn ra trên ba bình diện: văn hoá cá nhân, văn hoá cộng đồng và văn hoá gia đình.)

  • Thesis


  • Authors: Nguyễn, Thị Hải Phượng.;  Co-Author: 2013 (Luận án nghiên cứu nghi thức diễn xướng Bóng rỗi và chặp Địa nàng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam Bộ. Luận án đi sâu tìm hiểu, khảo sát, phân tích quy trình nghi lễ diễn xướng, bao gồm cả lễ vật, đạo cụ, chủ thể thực hiện, phương thức diễn xướng,v.v.., so sánh chúng với những nghi thức diễn xướng tương tự hoặc có liên quan, nhằm lý giải nguyên nhân và quá trình hình thành cũng như tìm hiểu những đặc điểm của chúng dưới góc độ văn hóa học. Qua đấy, luận án cố gắng nhận biết những quan niệm của người dân Nam Bộ về thế giới quan và cuộc sống xã hội, đồng thời khắc họa rõ nét đặc trưng văn hóa vùng miền ẩn chứa trong hình thức và nội dung Bóng rỗi và chặp Địa nàng.)

  • Thesis


  • Authors: Lê, Thị Ngọc Điệp.;  Co-Author: 2014 (Theo hướng tiếp cận địa văn hóa, sử văn hóa; vận dụng các lý thuyết văn hóa học và các phương pháp hệ thống, phương pháp liên ngành, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu văn bản; dựa trên tư liệu khảo sát chính là kinh Qur’an, Ngàn lẻ một đêm và một số tác phẩm văn học hiện đại; luận án của chúng tôi khái quát để phân tích, lý giải vấn đề địa vị, vai trò người phụ nữ trong văn hóa Hồi giáo Ả rập, theo tiến trình lịch sử; làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt qua so sánh với văn hóa Phật giáo và Ki tô giáo. Trong Chương 1 - Cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án trước hết xác lập khung lý thuyết nghiên cứu văn hóa giới trong quan hệ với văn hóa tôn giáo và nêu lên giả thuyết nghiên cứu cho vấn đề người phụ nữ trong văn hóa Hồi giáo. Vấn đề người phụ nữ trong văn hóa Hồi giáo Ả rập được xác định trong hệ tọa độ (bao gồm không gian văn hóa - chủ thể văn hóa - thời gian văn hóa), nhằm làm sáng rõ những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ giới trong nền văn hóa này. Chương 2 - Người phụ nữ trong văn hóa Hồi giáo Ả rập qua kinh Qur’an - làm sáng tỏ địa vị, bổn phận người phụ nữ trong gia đình và xã hội qua khảo sát kinh Qur’an như một điển chế tôn giáo, chính trị, luật pháp, đạo đức của Hồi giáo Ả rập. Chương 3 - Người phụ nữ trong văn hóa Hồi giáo qua văn học Ả rập – làm sáng tỏ những khía cạnh cuộc sống, phẩm chất, khát vọng của người phụ nữ trong văn hóa Hồi giáo được phản ánh qua tập truyện dân gian Ngàn lẻ một đêm và một số tác phẩm văn xuôi hiện đại.)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Nguyễn, Thị Thu Thủy.;  Advisor: Lý, Tùng Hiếu.; Đinh, Thị Dung.;  Co-Author: 2018 (Nghiên cứu địa danh từ góc nhìn văn hóa học là một hướng nghiên cứu mới mang tính liên ngành. Bởi địa danh vốn dĩ là đối tượng nghiên cứu truyền thống của ngôn ngữ học và một số ngành khoa học khác như địa lý, lịch sử, dân tộc học… Văn hóa học sẽ kế thừa, đan cài và “vượt gộp” phương pháp tư duy hệ thống và tiếp cận liên ngành để nghiên cứu mối tương quan giữa văn hoá với địa danh và những nội dung văn hoá được tàng trữ trong tập hợp địa danh ở NTBT. Luận án chọn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu phổ dụng trong khoa học xã hội và nhân văn gồm: Phương pháp khảo sát điền dã, phương pháp thống kê phân loại, phương pháp hệ thống cấu trúc, phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp nghiên cứu liên ngành. Song song đó, luận án sử dụng hơn 200 tài liệu tham khảo gồm tiếng Việt, Anh, Pháp phục vụ hiệu quả nhất mục đích nghiên cứu để có những đóng góp nhất định về cả phương diện lý luận và thực tiễn. Qua nghiên cứu, địa danh ở NTBT đã phản ánh khá sắc nét về không gian văn hóa, lịch sử văn hóa, chủ thể văn hóa và các hoạt động văn hóa đặc trưng của quá trình khai thác, thích ứng, biến đổi môi trường tự nhiên trên vùng đất NTBT. Về không gian văn hóa, địa danh ở NTBT cho thấy đặc trưng của địa hình, thủy văn, khí hậu, động thực vật trên cạn và dưới nước miền duyên hải Trung Bộ theo thế giới quan của chủ nhân văn hóa trên vùng đất này. Về lịch sử văn hóa, các sự kiện, biến cố quan trọng trong lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương được khắc họa khá rõ trong địa danh. Qua đó cho thấy chế độ chính trị, sự di dân và công cuộc kháng chiến của toàn dân tộc là những nguyên nhân chủ yếu làm thay đổi, phân chia, tách nhập địa danh hành chính trong lịch sử. Bên cạnh đó, dấu ấn của giao lưu tiếp biến văn hóa – ngôn ngữ tạo ra những nét đặc trưng khu biệt của địa danh vùng đất này chính là hiện tượng địa danh song tồn, ghép nối địa danh gốc tiếng Chăm, Raglai, K’ho với địa danh gốc tiếng Việt, địa danh dịch nghĩa hoặc mô phỏng ngữ âm. Về chủ thể văn hóa, con người đã khắc họa chính mình vào địa danh thông qua ngôn ngữ, thành phần tộc người, giai cấp, địa vị trong xã hội, gửi gắm nhân sinh quan và bằng việc dùng nhân danh để định danh qua hai lớp địa danh dân gian và địa danh hành chính – quan phương. Địa danh dân gian chủ yếu là ngôn ngữ thuần Việt, thể hiện cái nhìn dân dã trực quan sinh động, gần gũi, địa danh hành chính – quan phương mang tính bác học chứa đựng hàm ý sâu xa gửi gắm mong ước, khát vọng của con người qua các mỹ từ Hán Việt. Địa danh dân gian ít biến đổi, gắn bó mật thiết, tồn tại lâu hơn trong cộng đồng ngay cả khi đối tượng được định danh không còn nữa hay đã thay đổi. Dân gian cũng khoác lên mọi địa danh sự lý giải ý nghĩa đôi khi ngây thơ, mộc mạc và không có cơ sở khoa học. Còn địa danh hành chính – quan phương dễ bị biến đổi và có đời sống ngắn hơn. Sự biến cải ấy có thể mang tính quy luật nhưng phần nhiều do ý muốn chủ quan của chủ thể định danh bất chấp hiện thực và ý nghĩa của nó. Cả hai nhóm địa danh này bổ sung cho nhau, cung cấp một cái nhìn đa diện, đúng đắn hơn cho hậu thế. Về hoạt động văn hóa, địa danh tập trung phản ánh văn hóa mưu sinh trên ba mảng nội dung: kinh tế biển, nông nghiệp và thủ công nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động quân sự của một dân tộc có bề dày lịch sử chống ngoại xâm lâu đời, nhu cầu tinh thần vô cùng phong phú, đa dạng của con người “xứ Thuận” cũng thể hiện khá rõ nét trong địa danh. Địa danh và văn hóa có mối quan hệ khắng khít mật thiết với nhau. Tuy nhiên, khi chồng các trường nghĩa của địa danh lên hệ thống văn hóa thì hai phạm trù này không trùng khớp nhau. Nói cách khác, giữa văn hóa và địa danh có một độ sai biệt nhất định. Địa danh tàng trữ văn hóa, nhưng chỉ là một mảng sáng tạo trong vô vàn sáng tạo văn hóa của con người. Do đó, nội dung văn hóa trong địa danh hẹp hơn văn hóa trong hiện thực, chỉ phản ánh một phần chứ không phải tất cả nội dung văn hóa tộc người, văn hóa vùng miền. Địa danh là sản phẩm của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Do vậy, chúng là tạo phẩm mang tính chọn lựa, tính tri nhận, tính sáng tạo của con người, không phải là một bản sao chép nguyên trạng. Tuy cùng một mục đích là định danh và cá biệt hóa không gian sinh tồn, ngữ nghĩa của các địa danh không sao chụp y nguyên hiện thực tự nhiên và xã hội mà thông qua “bộ lọc” và lăng kính của quá trình tri nhận, cải biến và ký họa lại hiện thực ấy theo quan điểm và cách thức riêng của các tộc người. Đó là sự tương đồng và dị biệt về chất giữa hiện thực tự nhiên và văn hóa với địa danh. Sự sai biệt đó hiện rõ khi phân phối các địa danh vào các bộ phận, yếu tố khác nhau của hệ thống văn hóa theo cái nhìn của văn hóa học. Theo đó, có những nội dung văn hóa được địa danh tập trung phản ánh: văn hóa mưu sinh, văn hóa quân sự, văn hóa tôn giáo, văn hóa nghệ thuật nhưng cũng có nội dung địa danh không phản ánh hoặc rất mờ nhạt. Điều này cho thấy bên cạnh sự tương đồng và dị biệt về chất, giữa hiện thực tự nhiên và văn hóa với địa danh còn có sự tương đồng và dị biệt về lượng.)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Nguyễn, Thị Phương Duyên.;  Advisor: Phan Thị Thu Hiền;  Co-Author: 2017 (Thời gian là một phạm trù phổ quát của nhân loại, gắn liền với nhận thức của con người và chi phối đến suy nghĩ, hành động, cách ứng xử của con người trên mọi phương diện. Cách ứng xử với thời gian của mỗi nền văn hóa thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc và liên quan trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Với mong muốn cung cấp góc nhìn khoa học về mối quan hệ giữa con người với thời gian, cho thấy ý nghĩa nhân sinh sâu sắc của thời gian đối với cuộc sống người Việt, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài văn hóa thời gian của người Việt, vấn đề mà cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống, chủ yếu chỉ phản ánh những khía cạnh có liên quan. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận án có 3 chương Chương 1: Những vấn đề chung, bao gồm những khái niệm công cụ, xác định tọa độ văn hóa, đồng thời khái quát những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa thời gian của người Việt. Chương 2: Văn hóa thời gian của người Việt trong ứng xử với tự nhiên, chương này nghiên cứu văn hóa ứng xử với thời gian của người Việt trong mối quan hệ với tự nhiên. Chương 3 : Văn hóa thời gian của người Việt trong ứng xử xã hội, tiếp cận nghiên cứu văn hóa ứng xử với thời gian của người Việt trong mối quan hệ với xã hội.)