Search

Current filters:

Search Results

Item hits:
  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Nguyễn, Thị Thu Thủy.;  Advisor: Lý, Tùng Hiếu.; Đinh, Thị Dung.;  Co-Author: 2018 (Nghiên cứu địa danh từ góc nhìn văn hóa học là một hướng nghiên cứu mới mang tính liên ngành. Bởi địa danh vốn dĩ là đối tượng nghiên cứu truyền thống của ngôn ngữ học và một số ngành khoa học khác như địa lý, lịch sử, dân tộc học… Văn hóa học sẽ kế thừa, đan cài và “vượt gộp” phương pháp tư duy hệ thống và tiếp cận liên ngành để nghiên cứu mối tương quan giữa văn hoá với địa danh và những nội dung văn hoá được tàng trữ trong tập hợp địa danh ở NTBT. Luận án chọn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu phổ dụng trong khoa học xã hội và nhân văn gồm: Phương pháp khảo sát điền dã, phương pháp thống kê phân loại, phương pháp hệ thống cấu trúc, phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp nghiên cứu liên ngành. Song song đó, luận án sử dụng hơn 200 tài liệu tham khảo gồm tiếng Việt, Anh, Pháp phục vụ hiệu quả nhất mục đích nghiên cứu để có những đóng góp nhất định về cả phương diện lý luận và thực tiễn. Qua nghiên cứu, địa danh ở NTBT đã phản ánh khá sắc nét về không gian văn hóa, lịch sử văn hóa, chủ thể văn hóa và các hoạt động văn hóa đặc trưng của quá trình khai thác, thích ứng, biến đổi môi trường tự nhiên trên vùng đất NTBT. Về không gian văn hóa, địa danh ở NTBT cho thấy đặc trưng của địa hình, thủy văn, khí hậu, động thực vật trên cạn và dưới nước miền duyên hải Trung Bộ theo thế giới quan của chủ nhân văn hóa trên vùng đất này. Về lịch sử văn hóa, các sự kiện, biến cố quan trọng trong lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương được khắc họa khá rõ trong địa danh. Qua đó cho thấy chế độ chính trị, sự di dân và công cuộc kháng chiến của toàn dân tộc là những nguyên nhân chủ yếu làm thay đổi, phân chia, tách nhập địa danh hành chính trong lịch sử. Bên cạnh đó, dấu ấn của giao lưu tiếp biến văn hóa – ngôn ngữ tạo ra những nét đặc trưng khu biệt của địa danh vùng đất này chính là hiện tượng địa danh song tồn, ghép nối địa danh gốc tiếng Chăm, Raglai, K’ho với địa danh gốc tiếng Việt, địa danh dịch nghĩa hoặc mô phỏng ngữ âm. Về chủ thể văn hóa, con người đã khắc họa chính mình vào địa danh thông qua ngôn ngữ, thành phần tộc người, giai cấp, địa vị trong xã hội, gửi gắm nhân sinh quan và bằng việc dùng nhân danh để định danh qua hai lớp địa danh dân gian và địa danh hành chính – quan phương. Địa danh dân gian chủ yếu là ngôn ngữ thuần Việt, thể hiện cái nhìn dân dã trực quan sinh động, gần gũi, địa danh hành chính – quan phương mang tính bác học chứa đựng hàm ý sâu xa gửi gắm mong ước, khát vọng của con người qua các mỹ từ Hán Việt. Địa danh dân gian ít biến đổi, gắn bó mật thiết, tồn tại lâu hơn trong cộng đồng ngay cả khi đối tượng được định danh không còn nữa hay đã thay đổi. Dân gian cũng khoác lên mọi địa danh sự lý giải ý nghĩa đôi khi ngây thơ, mộc mạc và không có cơ sở khoa học. Còn địa danh hành chính – quan phương dễ bị biến đổi và có đời sống ngắn hơn. Sự biến cải ấy có thể mang tính quy luật nhưng phần nhiều do ý muốn chủ quan của chủ thể định danh bất chấp hiện thực và ý nghĩa của nó. Cả hai nhóm địa danh này bổ sung cho nhau, cung cấp một cái nhìn đa diện, đúng đắn hơn cho hậu thế. Về hoạt động văn hóa, địa danh tập trung phản ánh văn hóa mưu sinh trên ba mảng nội dung: kinh tế biển, nông nghiệp và thủ công nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động quân sự của một dân tộc có bề dày lịch sử chống ngoại xâm lâu đời, nhu cầu tinh thần vô cùng phong phú, đa dạng của con người “xứ Thuận” cũng thể hiện khá rõ nét trong địa danh. Địa danh và văn hóa có mối quan hệ khắng khít mật thiết với nhau. Tuy nhiên, khi chồng các trường nghĩa của địa danh lên hệ thống văn hóa thì hai phạm trù này không trùng khớp nhau. Nói cách khác, giữa văn hóa và địa danh có một độ sai biệt nhất định. Địa danh tàng trữ văn hóa, nhưng chỉ là một mảng sáng tạo trong vô vàn sáng tạo văn hóa của con người. Do đó, nội dung văn hóa trong địa danh hẹp hơn văn hóa trong hiện thực, chỉ phản ánh một phần chứ không phải tất cả nội dung văn hóa tộc người, văn hóa vùng miền. Địa danh là sản phẩm của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Do vậy, chúng là tạo phẩm mang tính chọn lựa, tính tri nhận, tính sáng tạo của con người, không phải là một bản sao chép nguyên trạng. Tuy cùng một mục đích là định danh và cá biệt hóa không gian sinh tồn, ngữ nghĩa của các địa danh không sao chụp y nguyên hiện thực tự nhiên và xã hội mà thông qua “bộ lọc” và lăng kính của quá trình tri nhận, cải biến và ký họa lại hiện thực ấy theo quan điểm và cách thức riêng của các tộc người. Đó là sự tương đồng và dị biệt về chất giữa hiện thực tự nhiên và văn hóa với địa danh. Sự sai biệt đó hiện rõ khi phân phối các địa danh vào các bộ phận, yếu tố khác nhau của hệ thống văn hóa theo cái nhìn của văn hóa học. Theo đó, có những nội dung văn hóa được địa danh tập trung phản ánh: văn hóa mưu sinh, văn hóa quân sự, văn hóa tôn giáo, văn hóa nghệ thuật nhưng cũng có nội dung địa danh không phản ánh hoặc rất mờ nhạt. Điều này cho thấy bên cạnh sự tương đồng và dị biệt về chất, giữa hiện thực tự nhiên và văn hóa với địa danh còn có sự tương đồng và dị biệt về lượng.)

  • Luận văn, Luận án (Theses)


  • Authors: Nguyễn, Thị Phương Duyên.;  Advisor: Phan Thị Thu Hiền;  Co-Author: 2017 (Thời gian là một phạm trù phổ quát của nhân loại, gắn liền với nhận thức của con người và chi phối đến suy nghĩ, hành động, cách ứng xử của con người trên mọi phương diện. Cách ứng xử với thời gian của mỗi nền văn hóa thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc và liên quan trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Với mong muốn cung cấp góc nhìn khoa học về mối quan hệ giữa con người với thời gian, cho thấy ý nghĩa nhân sinh sâu sắc của thời gian đối với cuộc sống người Việt, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài văn hóa thời gian của người Việt, vấn đề mà cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống, chủ yếu chỉ phản ánh những khía cạnh có liên quan. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận án có 3 chương Chương 1: Những vấn đề chung, bao gồm những khái niệm công cụ, xác định tọa độ văn hóa, đồng thời khái quát những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa thời gian của người Việt. Chương 2: Văn hóa thời gian của người Việt trong ứng xử với tự nhiên, chương này nghiên cứu văn hóa ứng xử với thời gian của người Việt trong mối quan hệ với tự nhiên. Chương 3 : Văn hóa thời gian của người Việt trong ứng xử xã hội, tiếp cận nghiên cứu văn hóa ứng xử với thời gian của người Việt trong mối quan hệ với xã hội.)

  • Thesis


  • Authors: Nguyễn, Thị Tuyết Ngân.;  Advisor: Trần, Hữu Tá;  Co-Author: 2017 (Theo hướng tiếp cận liên ngành, vận dụng các phương pháp quan sát thực tế, phương pháp so sánh - loại hình, phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp thống kê, dưới một điểm nhìn thống nhất là văn hóa học, luận án không chỉ xác định các phi giá trị mà còn đi tìm các giá trị của giả dối: giá trị giúp giải thích lý do tồn tại của giả dối và phi giá trị để xác định cách thức con người đối phó với giả dối. Dưới góc độ hành động, giả dối được xem xét theo ba bình diện nhận thức, tổ chức và ứng xử. Từ bình diện nhận thức, luận án làm rõ làm rõ định nghĩa giả dối và các đặc trưng của nó. Trên cơ sở tổng hợp các quan điểm về các khái niệm “văn hóa”, “giá trị”, “sự thật”, luận án đưa ra cách phân biệt “nửa sự thật” với “giả dối”: Nửa sự thật là sản phẩm của hạn chế về nhận thức và diễn giải, còn giả dối là kết quả của việc cố ý làm sai lệch so với hiện thực. Giả dối là hiện tượng xã hội mang tính hai mặt rõ rệt tồn tại phổ biến từ rất lâu đời. Từ bình diện văn hóa tổ chức và ứng xử, hoạt động giả dối được xem xét theo ba nhóm: (1) Giả dối xuyên loài gồm các đối tác là các đối tượng siêu nhiên, các đối tượng tự nhiên, (2) Giả dối nội loài xuyên văn hoá với các đối tượng là con người ở các nền văn hoá khác và (3) Giả dối nội văn hoá gồm các đối tượng là con người ở cùng nền văn hoá với chủ thể. Dưới góc độ cách đánh giá của xã hội, giả dối được xem xét theo các bình diện văn hóa tận dụng giả dối, văn hóa lưu luyến giả dối và văn hóa đối phó với giả dối. Văn hoá tận dụng giả dối làm sáng tỏ mặt giá trị của giả dối. Các đặc trưng bản chất và các công dụng của giả dối là những cơ sở quan trọng giúp xác định những biện pháp giáo dục giả dối đang được áp dụng trong cả ba lĩnh vực gia đình, trường học và xã hội. Văn hóa lưu luyến giả dối được hình thành từ những liên tưởng nhiều chiều và từ nhiều chuyện khác liên quan được xem xét dưới hai lĩnh vực: trong nghệ thuật – nơi phản ánh cuộc sống bằng sáng tạo nghệ thuật và trong đời sống thực tiễn dưới các hình thức lễ hội, bảo tàng. Văn hoá đối phó với giả dối làm rõ tính phi giá trị của giả dối. Giả dối được xem xét trong các mối quan hệ của chủ thể với khách thể và cộng đồng qua tâm lý, tình cảm và qua góc nhìn lợi ích, xem xét thái độ của xã hội đối với nó. Luận án đi vào khảo sát ba lĩnh vực văn hóa đối phó với giả dối là văn hóa phát hiện giả dối, văn hóa xử lý giả dối, và văn hóa phòng ngừa giả dối.)

  • Thesis


  • Authors: Nguyễn, Thanh Tuấn.;  Advisor: Nguyễn, Văn Lịch;  Co-Author: 2016 (Luận án được thực hiện theo hướng tiếp cận địa văn hóa, sử văn hóa và vận dụng phương pháp điền dã dân tộc học, phỏng vấn sâu, khảo sát tư liệu, nghiên cứu sử học, so sánh văn hóa, phương pháp đa ngành. Dựa trên thông tin khảo sát thực tế tại khu vực Yogyakarta và Surakarta cùng với nguồn tư liệu thu thập được, chúng tôi khái quát quá trình Islam giáo du nhập và phát triển ở Java, lịch sử nghệ thuật Java, phân tích các ảnh hưởng của Islam giáo đến các loại hình nghệ thuật Java nhằm xác định vai trò của Islam giáo trong văn hóa nghệ thuật của người Java, Indonesia. Trong Chương 1 - Cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án xác lập khung lý thuyết nghiên cứu và xác định hệ tọa độ (bao gồm không gian văn hóa - chủ thể văn hóa - thời gian văn hóa) của văn hóa nghệ thuật Java. Chương 2 - Vai trò Islam giáo trong nghệ thuật ngôn từ Java, luận án phân tích ảnh hưởng của Islam giáo trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ Java để làm rõ vai trò của Islam giáo. Chương 3 - Vai trò của Islam giáo trong nghệ thuật biểu diễn Java, luận án phân tích ảnh hưởng của Islam giáo trong lĩnh vực nghệ thuật múa, sân khấu và âm nhạc để làm rõ vai trò của Islam giáo. Chương 4 - Vai trò của Islam giáo trong nghệ thuật tạo hình Java, luận án phân tích ảnh hưởng của Islam giáo trong lĩnh vực nghệ thuật hội họa, kiến trúc và điêu khắc để làm rõ vai trò của Islam giáo.)

  • Thesis


  • Authors: Võ, Thị Mỹ.;  Advisor: Phú, Văn Hẳn; Trần, Ngọc Khánh;  Co-Author: 2016 (Người Chăm là một trong 53 dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời trên mảnh đất Việt Nam, có nền văn hóa phong phú, đặc sắc. Người Chăm ngày nay tiếp tục lưu giữ những giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa mới, góp phần tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam. Người Chăm là một trong năm dân tộc (Raglai, Churu, Giarai, Êđê) thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo (Malayo - Polynesian), ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian). Cùng với vai trò và vị thế của mình trong xã hội mẫu hệ, người phụ nữ Chăm (người bà, người mẹ, người vợ, người con gái,…) phản ánh rõ nét trong các lĩnh vực như tổ chức gia đình - hôn nhân, chế độ thừa kế tài sản, tổ chức xã hội,… với những khuôn mẫu và bản sắc văn hóa riêng. Đề tài “Phụ nữ trong văn hóa Chăm” được chọn để làm luận án tiến sĩ chuyên ngành văn hóa học hướng mục tiêu tìm ra giá trị riêng của phụ nữ Chăm trong sáng tạo văn hóa, làm rõ đặc trưng gia đình mẫu hệ, hiểu thêm vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội Chăm, xem xét sự đóng góp của phụ nữ Chăm trong xã hội truyền thống và những thay đổi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay. Đề tài nghiên cứu liên quan trực tiếp đến người phụ nữ Chăm truyền thống dưới góc nhìn văn hóa học trong không gian văn hóa Chăm ở Nam Trung Bộ và văn hóa Chăm ở Nam Bộ. Do đối tượng nghiên cứu là phụ nữ trong văn hóa của người Chăm, nên đề tài xem xét các mặt của đời sống từ văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống đến văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội. Khung lý thuyết theo hướng tiếp cận địa văn hóa, sử văn hóa, phụ nữ học; vận dụng các lý thuyết về văn hóa như thuyết sinh thái văn hóa, thuyết hậu hiện đại,… giúp giải quyết vấn đề của luận án. Các phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu văn bản, phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp điền dã và phỏng vấn sâu, thao tác diễn dịch và quy nạp kết hợp với thao tác phân tích và tổng hợp được vận dụng thực hiện đề tài.)

  • Thesis


  • Authors: Nguyễn, Phước Hiền.;  Advisor: Phan, Thị Thu Hiền;  Co-Author: 2017 (Từ bao đời nay, cồng chiêng đã gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng, với các nghi lễ, lễ hội của đồng bào thể hiện niềm tin, sức sống, thế giới tinh thần và là bản sắc văn hóa của vùng đất và con người Tây Nguyên. Trong những thập niên gần đây, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ngày càng bị thu hẹp, mất dần bản sắc. Một số kết quả nghiên cứu ít nhiều đề cập hoặc phần nào liên quan tới công tác bảo tồn không gian văn hóa này hầu như đều chưa đạt được tính nhất quán trong một cái nhìn tổng quan, dù những nghiên cứu trên là cơ sở dữ liệu vô cùng quý giá. Luận án này nghiên cứu vấn đề không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn văn hóa học, chủ động liên kết các cách tiếp cận, các hướng nghiên cứu và sử dụng tối đa thành quả nghiên cứu của người đi trước để phác họa một bức tranh tổng thể, khoa học về hệ thống không gian và đặc điểm, giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Từ đó, cố gắng tìm ra giải pháp góp phần vào công tác bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.)

  • Thesis


  • Authors: Võ, Sông Hương.;  Advisor: Phan, Thị Thu Hiền;  Co-Author: 2016 (Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn: Làm rõ một số khái niệm cần thiết, giới thiệu về các Lý thuyết sử dụng trong luận án, phân tích các yếu tố chi phối phong tục sinh nở của người Việt gồm yếu tố chủ thể, không gian và thời gian. Chương 2 Phong tục sinh nở truyền thống của người Việt trong mối quan hệ với thế giới tâm linh: bao gồm mối quan hệ với các tín ngưỡng bản địa như tín ngưỡng phồn thực, niềm tin về linh hồn, về ma quỷ; và trong những ảnh hưởng của văn hóa ngoại nhập với những màu sắc mới trong niềm tin tâm linh đến từ Phật giáo, Đạo giáo, Kitô giáo. Chương 3: Phong tục sinh nở truyền thống của người Việt trong mối quan hệ với tự nhiên: là cách nhận thức của người Việt về sinh nở trong những tương quan với sự sinh trưởng của thực vật, động vật, trong tư duy âm dương; và từ đó, có cách ứng xử tương ứng, thể hiện qua các phong tục trong chu kỳ sinh nở. Chương 4: Phong tục sinh nở truyền thống của người Việt trong mối quan hệ nhân sinh: Với tính cộng đồng đặc trưng của văn hóa nông nghiệp, người sinh con và em bé luôn được quan tâm về thể chất lẫn tinh thần bởi những bà mẹ, những người phụ nữ trong gia đình, họ hàng, làng xóm, bởi các bà mụ, thầy pháp, thầy lang. Cả mẹ và con, ngay từ khi còn trong bụng mẹ, đã có những mối quan hệ khăn khít với nhiều người trong xã hội, trong thế giới thật và cả trong thế giới ảo. Chương 5: Những biến đổi trong phong tục sinh nở của người Việt: Sự xuất hiện của Y học phương Tây, Chữ Quốc ngữ và báo chí, Các chính sách và phương pháp kiểm soát và hỗ trợ việc sinh nở đã làm cho cách nhận thức và ứng xử của người Việt trong sinh nở có nhiều biến đổi. Đề tài đã đánh giá, phân tích thái độ của người Việt ngày nay đối với các phong tục sinh nở truyền thống; và dự đoán xu hướng tồn tại của chúng trong tương lai.)

  • Thesis


  • Authors: Phạm, Thị Minh Nguyệt.;  Advisor: Bùi, Bá Linh; Trần, Chí Mỹ;  Co-Author: 2015 (Luận án tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai trong những năm qua, từ đó xác định phương hướng cơ bản và đề xuất một số giải pháp chủ yếu tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai hiện nay. Thứ nhất, luận án đã phân tích làm rõ lý luận chung về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam qua các vấn đề khái niệm đời sống văn hóa tinh thần, một số đặc trưng cơ bản của đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam, các nhân tố tác động đến đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công Việt Nam, tính tất yếu và một số yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Thứ hai, luận án đã khái quát những đặc điểm tiêu biểu về lịch sử, địa lý - tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai; chỉ ra đặc điểm riêng của công nhân và đặc trưng về đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở Đồng Nai hiện nay; phân tích thực trạng xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai trong những năm qua trên các lĩnh vực cơ bản như: tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục, khoa học, nghệ thuật; nguyên nhân và một số bài học kinh nghiệm; đồng thời chỉ rõ những vấn đề cần đặt ra trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay. Thứ ba, từ những vấn đề trên, luận án đã xác định bốn phương hướng cơ bản và đề xuất sáu nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai hiện nay.)

  • Thesis


  • Authors: Mã, Thanh Cao.;  Advisor: Trang Phượng; Trịnh, Dũng;  Co-Author: 2015 (Là một thành tố văn hóa, hội họa miền Nam giai đoạn 1954-1975 chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Trong chiến tranh, dù hoàn cảnh sống khác nhau, nhưng các họa sĩ kháng chiến sống ở vùng Giải phóng cũng như các họa sĩ ở vùng Tạm chiếm với trung tâm Sài Gòn đều say mê sáng tác và đã tạo nên một nền hội họa mang đậm bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc trong hội họa miền Nam giai đoạn 1954-1975 được thể hiện qua nội dung và hình thức tác phẩm. Phương pháp nghiên cứu vận dụng trong luận án bao gồm phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp thực nghiệm và phỏng vấn sâu. Luận án khảo sát hàng ngàn tác phẩm hội họa của hơn 100 tác giả, có đối chiếu với một số tác phẩm hội họa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và của một số họa sĩ nước ngoài để làm rõ bản sắc dân tộc trong hội họa Nam bộ giai đoạn 1954-1975. Chương 1, Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận. Dựa vào kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu văn hóa, luận án xác định hướng nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc trong hội họa Việt Nam trước thế kỷ XX, nửa đầu thế kỷ XX, xác định các tiêu chí về nội dung và hình thức thể hiện để nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc trong tác phẩm hội họa miền Nam giai đoạn 1954-1975. Chương 2, Bản sắc dân tộc thể hiện qua nội dung tác phẩm hội họa. Vận dụng khung lý thuyết ở chương 1 để khảo sát và phân tích bản sắc dân tộc trong các tác phẩm hội họa miền Nam giai đoạn 1954-1975 qua các yếu tố: chủ đề, hình tượng nghệ thuật và những giá trị tư tưởng của các tác phẩm hội họa vùng Giải phóng cũng như vùng Tạm chiếm. Chương 3: Bản sắc dân tộc thể hiện qua hình thức tác phẩm hội họa. Xem xét các đặc điểm về ngôn ngữ, xu hướng sáng tác và việc sử dụng, phát huy các chất liệu trong hội họa ở vùng Giải phóng cũng như vùng Tạm chiếm để khẳng định khả năng biểu đạt bản sắc dân tộc trong tác phẩm hội họa miền Nam giai đoạn 1954-1975. Luận án khẳng định vị trí quan trọng của hội họa miền Nam giai đoạn 1954-1975 trong văn hóa nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Các tác phẩm hội họa là những chứng cứ vật chất và tinh thần thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là sự kiên quyết bảo tồn truyền thống vốn có của mỹ thuật dân tộc và sự tự tin tiếp thu những yếu tố mới từ bên ngoài làm cho hội họa vừa mang tính dân tộc vừa mang tính thời đại.)